Từ 1952 đến 2002

II.  THỜI KỲ SAU : 50 NĂM CẢI TỔ VÀ HỘI NHẬP

(1952 – 2002)

 

1)  Từ năm 1945 đến cuối năm 1951.

  Cách mạng tháng 8 thành công. Từ đây toàn bộ lãnh thổ Giáo phận Vinh là “vùng tự do” liên tục và toàn vẹn. Các thừa sai ngoại quốc không còn  được phép hoạt động. Đức Cha Eloy (Bắc) không thể điều hành mục vụ, Ngài đồng ý đặt Đức Cha Gioan Baotixita Trần Hữu Đức làm Tổng Quản thay mặt Ngài.

Chương trình đầu tiên của Cha Tổng Quản Giáo phận là nâng cấp hàng Linh mục, xúc tiến việc sinh hoạt ba Chủng viện và cải tổ các sở Dòng Mến Thánh Giá đúng như tinh thần của Đức Cha Lambert de la Motte.

Vì chưa được trọn quyền, nên ý định tốt lành của Cha Tổng Quản vẫn chưa được thực hiện. Phải chờ đến cuối năm 1951, sau ngày được thụ phong Giám mục, Ngài mới ra tay thực hiện. Chủ trương của Đức Cha Gioan Baotixita Trần Hưũ Đức, là qui tụ tất cả các sở Dòng Mến Thánh Giá trong Giáo phận vào một tổ chức duy nhất, có một ban lãnh đạo chung, một kỷ luật thống nhất, được huấn luyện, để sống chính thức có Lời Khấn Công khai của đời Tận hiến.  Nhưng ai huấn luyện? Đó là điều Ngài còn đang băn khoăn trăn trở. Thật là Ý Chúa, lúc này, giáo phận Thanh Hóa đã chính quy hóa Dòng Mến Thánh Giá. Với sự sáng tạo trong lãnh đạo, Đức Cha Trần Hữu Đức đã đặt vấn đề với Đức Cha Louis de Cooman Hành, xin Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá giúp đỡ, bằng cách cử nhân sự vào trực tiếp huấn luyện. Đức Cha Hành đồng ý cử 3 bà : bà Anê Trần thị Đóa – tức Mẹ Bề trên, bà Anna Nguyễn thị Duyên và bà Anê Trần thị Diệm làm Giáo viên. Từ đây, Dòng Mến Thánh Giá Vinh  manh nha đi vao tổ chức.

 2)   Năm 1952 – 1953:   Khởi điểm thời kỳ phục hưng

Vấn đề cải tổ đã được Đức Cha Trần Hữu Đức để ý tới ngay khi Ngài mới lên ngôi, và chính Ngài cũng đã làm một số việc bước đầu vào cuối năm 1951, nhưng phải nói  rằng đến đầu năm 1952, công việc ấy mới chính thức được tiến hành.

Cụ thể, ngày 04 tháng 02 năm 1952, ba Nữ Tu được Đức Giám mục Louis Cooman Hành và Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá chỉ định, từ giã quê hương dấn thân ra đi.  Sau 9 ngày lênh đênh trên mặt nước – vì lúc bấy giờ chỉ có phương tiện thuyền bè là thông dụng nhất – mới vào tới Xã Đoài , là ngày 13 tháng 02 năm 1952.  Do tình hình đất nước lúc đó đang có chiến tranh mà liên khu IV lại là hậu phương chính, cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến, an ninh chính trị chưa bảo đảm, nên sinh hoạt tôn giáo gặp khó khăn mọi bề. Do đó, các vị chưa thể thực hiện việc huấn luyện chị em theo chương trình của Hội Dòng tại địa điểm vùng Xã Đoài – trung tâm Giáo phận; khi ấy,  Đức Cha cho phép tạm đặt cơ sở Huấn luyện ngay trong Cộng đoàn Dòng Vạn Lộc. Vậy ngày 20 tháng 02 năm 1952, ba Bà tới ở cộng đoàn chị em Mến Thánh Giá Vạn Lộc. Lạ cảnh lạ người, nhưng tinh thần Tông đồ xả thân cao độ, ba Bà đã sớm làm quen với môi trường và hoàn cảnh cuộc sống của chị em.  Ngày 17 tháng 03 năm 1953, dựa theo ý của Đức Cha Giáo phận Gioan Baotixita Trần Hữu Đức, cùng với sự nâng đỡ của Cha Phaolô Trần Đình Khanh là cha quản Hạt kiêm quản xứ Vạn Lộc, ba bà bắt đầu tổ chức nội vi theo đúng luật để làm Nhà Tập. Lúc này, Cha Phaolô Trần Đình Khanh, một linh mục  thánh thiện khôn ngoan,  chịu trách nhiệm linh đạo, trực tiếp cộng tác đắc lực với ba Bà. Thời gian đào tạo theo đúng luật là một năm Thử và một năm Tập chẵn,  nhưng lớp Thử, Tập đầu tiên nầy là số chị em tu lâu năm trong nhà Phước, vừa là lớp được chọn với những tiêu chuẩn có hy vọng, nên được Bề trên chuẩn giảm về thời gian huấn luyện.  Lễ Mẹ Dâng Mình  ngày 21 tháng 11 năm 1953, được tổ chức Lễ Khấn Dòng tại Vạn Lộc, 17 vòng nguyệt quế được đội lên đầu 17 Tân Khấn sinh. Đó là 17 bông hoa đầu mùa của Hội Dòng Mến Thánh Giá Giáo phận Vinh :

  1. Chị Maria               Nguyễn thị  Hiển .         Quê quán :        Hà Tĩnh
  2. Chị Maria               Đậu thị Lễ.                   ———-         Hà Tĩnh
  3. Chị Maria               Nguyễn thị Thân.          ———-         Nghệ An
  4. Chị Maria               Nguyễn thị Ái               ———-         Nghệ An
  5. Chị Maria               Nguyễn thị Thịnh           ———-         Nghệ An
  6. Chị Maria               Hoàng thị Quang           ———-         Quảng Bình     
  7. Chị Maria               Trần thị Ái                    ———-         Quảng Bình
  8. Chị Matta               Nguyễn thị Kính            ———-         Hà Tĩnh
  9. Chị Maria               Trần thị Hương              ———-         Quảng Bình
  10. Chị Maria               Đinh thị Phúc                 ———-         Nghệ An
  11. Chị Maria               Trần thị Nghĩa                ———-        Quảng Bình
  12. Chị Maria               Cao thị Khang              ———-          Hà Tĩnh
  13. Chị Matta               Trần thị Lành                ———-          Quảng Bình
  14.  Chị Maria              Nguyễn thị Hảo            ———-          Quảng Bình
  15. chị Matta                Phạm thị Toan               ———-          Nghệ An
  16. Chị Matta               Trần thị Nhơn               ———-          Nghệ An
  17. Chị Anna                Nguyễn thị Bình            ———-          Nghệ An

Kể từ đây, hàng năm cứ ngày 21 tháng 11, Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh đều đặn diễn ra Lễ Khấn cho chị em – các lớp kế tục.

3) Nói qua về sở Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương

Trong giai đoạn nầy,  cơ sở Dòng Hướng Phuơng có diễn biến. Số là năm 1953, tỉnh Quảng Bình bị Pháp đánh phá ác liệt.  Lúc đó 2 bà Nhất và Nhì của sở Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương là Maria Hoàng thị Quang và Maria Trần thị Ai đang thụ huấn  tại Tập Viện  ở sở Dòng Vạn Lộc,  sau khi đã khấn, vì sự điều hành của Bề trên, hai bà vẫn chưa trở về Cộng đoàn Hướng Phương được. Lúc bấy giờ, chị em ở nhà, trên dưới 40 người,  đành trộm phép trốn vào miền Nam.  Chỉ còn một số già yếu ở lại.

Long đong từ Đồng Hới chạy vào Đà Nẵng (1954) rồi lại khăn gói chạy vào Nha Trang (1955), cuối cùng các chị em đã dừng lại ở Tân Bình, nay là Giáo xứ Tân Bình, Giáo phận Nha Trang (thuộc xã Cam Hoà, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa). Năm 1957, hai bà Maria Hoàng thị Quang và Maria Trần thị Ai (thuộc lớp khấn tiên khởi như đã nói trên) vào Nam gặp lại chị em và đặt vấn đề với Bề trên thẩm quyền giáo phận Nha Trang, cho sinh hoạt theo luật. May thay, chị em đã được Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá ở Blao giúp huấn luyện. Năm 1962, bà Luy Sâm được cử làm Bề trên Nhà Tập, và bà Maria Hương làm Giáo Tập. Luật quy định thời hạn :Thử (tức tiền Tập) là 2 năm, Tập là một năm. Nhánh Dòng Mến Thánh Giá Tân Bình nầy có điều kiện phát triển thuận lợi hơn Dòng quê Mẹ. Mùa xuân 1970, Dòng đã có 60 chị khấn (trong đó 25 chị khấn trọn), có 20 Tiền Tập sinh và Tập sinh, 100 Đệ tử. Về cơ sở chị em Tân Bình lúc này, cũng đã có tiện nghi sinh hoạt.

4)   Năm 1954.

Quay lại lịch sử Dòng Mến Thánh Giá Vinh 1954, là năm ký kết hiệp định Genève. Theo tinh thần của hiệp định, mỗi người dân cả hai miền đều có quyền được chuyển sang sinh sống ở miền khác.   Phong trào di cư  dấy lên rầm rộ ở nhiều xứ đạo thuộc giáo phận Vinh. Nhưng với lập trường“MẾN THÁNH GIÁ” là đây,  chị em quyết tâm ở lại để giữ gìn cơ sở và duy trì tổ chức của mình.

Vào đầu năm 1955, khu nhà Lẫm Xã Đoài được “chuyển thể”. Nhà Chung hết ruộng, hết lúa. Nơi trước đây chứa “lúa đất” nay đang chuẩn bị tiếp nhận “lúa trời”. Nhà “Đâm xay” biến thành nội vi sinh hoạt  của Nhà Tập. Nhà Lẫm được ngăn thành nhà Nguyện và phòng học của trường Thánh Thất,  là nơi đào tạo lớp Đệ tử 12 tuổi trở lên. Nhà ở của ban Quản lý trở thành nơi cho các bà trong Ban Điều Hành và các chị Khấn ở. . . Tất cả công việc chuyển thể vất vả ấy là do sự lãnh đạo đầy tình thương, sáng tạo và nhiệt tình của Đức Cha Phêrô Nguyễn Năng, lúc bấy giờ là cha Quản lý Giáo phận.  Ngày 29 tháng 09 năm 1955, được lệnh Bề trên, chị em chuyển cư từ Vạn Lộc về khu vực mới. Thế là khu nhà Lẫm của sở Nhà Chung đã được cải tạo thành cơ sở Nhà Mẹ của Hội Dòng Mến Thánh Giá Giáo phận Vinh – trong đó có Tập Viện.

Tổ chức được ổn định và chính quy hoá rất nhanh chóng.  Mẹ Anê Đoá, và bà Giáo Tập Thanh Hoá cùng với những nòng cốt của Hội Dòng,  như bà Maria Nguyễn thị Thịnh, bà Maria Nguyễn thị Lễ, Maria Nguyễn thị Ai, Maria Đinh thị Phúc, Maria Cao thị Khang cùng với một số chân tay hộ trợ, làm thành Ban Lãnh đạo của Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh. Kể từ đây, nhân sự ngày một tăng số cách nhanh chóng.  Mỗi dịp Lễ trọng, như Phục Sinh, Quan Thầy Giáo phận, Truyền chức v.v., đoàn Nữ tu Mến Thánh Giá với hàng đôi đều đặn tiến về nhà thờ Chính Toà,  trang nghiêm trong y phục theo sắc màu thứ bậc. Có thể nói đó là niềm vui của giáo phận Vinh lúc bấy giờ, và là niềm hy vọng báo hiệu về một tương lai tươi sáng của Giáo phận trong thời đại mới.

Đức Cha Gioan Baotixita Trần Hữu Đưc đặc biệt quan tâm đến đoàn con Hội Dòng Mến Thánh Giá của Ngài. Ngài đặt Cha Phêrô Nguyễn Đình Trọng, một Linh mục khôn ngoan, thánh thiện, làm cha Tuyên Uý. Bên cạnh đó có cha Gioan Baotixita Nguyễn Hồng An, người con “say” của Đức Mẹ, hàng ngày huấn đức cho chị em, theo đường tu nhiệm nhặt của các Dòng thuở xưa trong Giáo Hội. Đến đây cho phép người nữ tu Mến Thánh Giá Vinh nghĩ về một mùa xuân mới với đủ sắc màu trong vườn ơn gọi của Giáo phận.

5) Năm 1957 – 1960

Đây là thời hưng thịnh của Dòng trong sự hưng thịnh của toàn Giáo phận. Quả thế, trong thư chung ngày 30/03/1960, Đức Cha đã vui mừng thông báo cho dân Chúa trong Giáo Phận những con số thật đáng mừng :

Chủng sinh Đại Chủng viện :    34

Chủng sinh Tiểu Chủng viện : 104

Chủng sinh Chủng viện Dự bị : 60

Tổng  số Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá : 320

Cũng trong năm nầy, vì nhu cầu của Hội Dòng Mẹ Thanh Hoá, ngày 21 – 07,  Hội Dòng Vinh đành phải để bà Annê Trần thị Diệm trở về Thanh Hoá.

Từ 1961 vì khó khăn của thời cuộc, không còn ứng sinh vào các sở Dòng. Số còn lại ở mỗi sở vẫn được tuyển về Tập Viện huấn luyện và khấn đều hàng năm. Từ 1963, số Đệ tử trường Thánh Thất ở tại chỗ,  tiếp tục tiến lên Tập Viện, và cứ thế cho đến hết số nữ sinh, là năm 1971. Những năm sau đó không còn lớp đệ tử kế tiếp.

6)  Năm 1964 –1968.

Mặc dầu sống trong những năm tháng kinh hoàng của bom đạn, thế nhưng hoàn cảnh không thể chi phối được bao trăn trở thao thức của các Đấng Bề trên với mong muốn con cái mình được vươn lên về trình độ văn hoá, đồng thời có được một đường hướng đức vững chắc. Chính vì thế, các Đấng đã tạo điều kiện cụ thể, là mời Quý Cha Giáo Chủng Viện của giáo phận như : cha Phêrô Nguyễn Bá Đương, cha Tôma Nguyễn Văn Cường, cha Phaolô Trần Đình Lợi (thư ký Tòa Giám mục) và Cha Phêrô Lê Duy Lượng, nhằm giúp nâng cấp văn hóa xã hội, mở mang kiến thức cũng như đường thiêng liêng cho chị em. Các Ngài cùng nhiệt tâm đồng hành với chị em trong những ngày dài đầy gian khổ.

Sự kiện vịnh Bắc bộ đã mở màn những năm tháng chiến tranh ác liệt. Lãnh thổ 3 tỉnh Nghệ – Tĩnh – Bình phải chịu tàn phá nặng nề nhất do bom đạn của máy bay Mỹ trút xuống. Từ 1966, chiến sự lan rộng : trục lộ, kho tàng, cầu cống, những điểm có tính quân sự, rồi đến nhiều vùng nông thôn đều bị đánh phá.  Đứng trước biến cố lịch sử ấy của nước nhà, vùng nhà Chung Xã Đoài phải triệt để sơ tán. Nhưng chị em Dòng Mến Thánh Giá xin được ở lại quyết thực hiện đầy đủ phòng không, đào hào giao thông, đắp hầm trú ẩn.

Năm 1968, năm hãi hùng của sự tàn phá và chết chóc đau thương do bom đạn Mỹ,  hầu hết các nhà thờ ở Quảng Bình bị đánh sập. Nghệ An, Hà Tĩnh cũng bị thiệt hại nhiều. Các sở Dòng xơ xác vì bom đạn. Đặc biệt, khu vực Tòa Giám Mục, trường Tiểu Chủng Viện và sở Dòng Mẹ Xã  Đoài đã phải chịu nhiều thương đau. Nhà Lẫm bị bốc cháy 2 ngày liền do máy bay Mỹ phóng rốc két vào, 14 chị em bị thương :  gãy chân, xuyên phổi, giập sọ . . . Nhưng lạ thay, không một ai bị tử vong mà hồi phục lại rất nhanh. Chị em phải tạm lánh sang nhà Hưu dưỡng của các Cha tại Toà Giám mục, nhưng vẫn cố gắng duy trì nội quy sinh hoạt. Ngày 21 tháng 7  cùng năm, cũng là một ngày đáng nhớ trong những biến cố đau thương hãi hùng. Nhà thờ Chính Toà, một số cơ sở Toà Giám mục, Dòng Mến Thánh Giá, trường Tiểu Chủng viện, Nhà Thương, đều bị bom phá huỷ tan hoang. Những ngày khủng khiếp ấy còn kéo dài tới ngày 01 tháng 11 mới chấm dứt.

7) Năm 1969.

Những năm tháng kinh hoàng đã qua, chị em sở Dòng Mẹ Xã Đoài lại trở về chốn cũ để tái thiết cơ sở trong hoang tàn đổ nát. Và đây lại cũng là năm chuẩn bị lễ mừng 300 năm ngày thành lập Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam. Mặc dù nằm trong tình trạng nghèo nàn cả về điều kiện kinh tế lẫn vốn kiến thức, nhưng mọi người đều cố gắng đóng góp hết mình theo khả năng và điều kiện cho phép. Chị em đã tra cứu , tìm cội nguồn, hỏi han những chị em đi trước  . . . . để hình thành một tập kỷ yếu đơn mọn. Và cuối cùng, lễ Tạ ơn được tổ chức 3 ngày liền trước lễ Suy tôn Thánh Giá 14 tháng 9 năm 1970,  dưới sự hướng dẫn đầy khôn ngoan và nhiệt huyết của Cha Phaolô Trần Đình Lợi.

 8)  Năm  1971 – 1980

Đây là giai đoạn nữ tu Mến Thánh Giá tập trung vào việc thăng tiến đời sống tu trì. Và luồng gió mới của Công đồng Vatican II cũng đã thổi vào Hội Dòng để từ đây công cuộc canh tân Hội Dòng ngày càng khởi sắc. Đặc biệt là sau ngày thống nhất nước nhà, có Chính quyền các cấp giúp đỡ, nhờ sự giao lưu giữa các Hội Dòng Nam Bắc, Dòng Mến Thánh Giá Vinh đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong đường lối, trong phương pháp truyền giáo và từ thiện phù hợp với bối cảnh lịch sử trong nước cũng như lịch sử thế giới hiện tại.

Ngày 04 tháng 01 năm 1971, Đức Cha già Gioan Baotixita Trần Hữu Đức từ trần. Đây là một đại tang cho Giáo phận nhà. Chị em Nữ tu Mến Thánh Giá Vinh khóc thương vị Cha Già đã suốt 20 năm tận tâm tận lực củng cố xây dựng hệ thống Dòng Mến Thánh GiáVinh thành một Hội Dòng lớn mạnh theo đường hướng của Đấng Sáng Lập, được cộng đồng dân Chúa mến yêu và tin cậy. Những nụ cười, dáng dấp, giọng nói và tấm lòng Cha như vẫn thật sống động và gần gũi với mỗi người chúng con. Tất cả xin được gói trọn trong tiếng “xin vâng” và “cảm tạ” !

Ngày 12 tháng 03 năm 1971, Đức Cha Phêrô Nguyễn Năng thụ phong Giám mục. Sau nhiều năm làm quản lý Giáo phận, Ngài quan tâm săn sóc tận tình và dào dạt yêu thương như một người mẹ, đã ân cần đi sát, tạo cho sở Dòng Mẹ những nhu cầu thiết yếu để hình thành và phát triển vững chắc. Trong suốt mấy chục năm, Đức Cha đã hao tổn rất nhiều sức  lực cho cả Giáo phận, đăc biệt cho đoàn con Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh – một đoàn con hoàn toàn đang non yếu và bất lực mọi bề.

Ngày 06/07/1978, Đức Cha Phêrô Nguyễn Năng từ trần. Đây là một tin sét đánh cho cả giáo phận và cách riêng cho chị em Dòng MTG Vinh – Xã Đoài. Ôi đau xót! Ngài đã ra đi quá bất ngờ – nhẹ nhàng thanh thoát sau những tháng ngày quên mình để phục vụ, bỏ lại  đoàn chiên phải khóc thương trong cảnh bơ vơ.

Ngày 04 tháng 03 năm 1979, Đức Cha Phêrô Trần xuân Hạp thụ phong Giám mục tại nhà thờ Chính Toà Xã Đoài. Với tư chất thông minh và tài lãnh đạo, Đức Cha khởi sự những đổi mới trong Giáo phận. Và từ đây, Dòng Mến Thánh Giá bước vào một trang sử mới. Người đã lo cho các Sở có nơi ăn chốn ở xứng hợp. Dòng Mẹ Xã Đoài lần lượt được xây dựng thêm mấy căn nhà, tương xứng với một Tu viện trên 300 năm lịch sử. Người đã cho phép chị em được canh tân tu phục gọn gàng và thanh lịch hợp thời như các Nữ tu thế giới, để thuận tiện trong công việc phục vụ và rao giảng Tin Mừng.

9)   Năm 1980 – 1993

Năm 1980,  Hội Đồng Giám mục Việt Nam được thành lập. Tinh thần Thư Chung đầu tiên của Hội Đồng Giám mục Việt nam qua phương châm : “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” đã trở thành kim chỉ nam cho mọi đường hướng sống đạo của người Kitô hữu Việt Nam.  Theo đường hướng ấy, Dòng Mến Thánh Giá nhanh chóng hội nhập để bắt kịp đà tiến của dân tộc, nhằm phục vụ hạnh phúc đồng bào giáo lương.

Năm 1981, Đức Cha Phêrô Trần Xuân Hạp cùng với Ban Điều hành Hội Dòng,  thực hiện kế hoạch gửi nhân sự vào Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế để giao lưu học hỏi. Trong thời gian nầy,  chị em tích cực đào sâu bồi dưỡng kiến thức, hầu mang về giúp ích cho Hội Dòng. Nhưng do hoàn cảnh khách quan, chỉ hơn một tháng, chị em đã phải khăn gói trở về.  Quả thật,  khát vọng đầy tràn  nhưng thời cuộc không chiều lòng người!

Dịp đi viếng  Mộ 2 Thánh Phêrô và Phaolô tại Rôma, Đức Cha được Toà Thánh cho phép lập Tập viện ở từng sở Dòng để đào tạo lớp “học trò cao tuổi”, đã kiên trì chờ đợi suốt 20 năm ròng.  Cuối năm 1980  có lễ khấn Tạm cho lớp học trò  ấy tại Xã Đoài với số lượng là 33 chị em.

Cũng vào năm này, vì tuổi già sức yếu, mẹ Anê Trần thị Đoá xin nghỉ hưu trong khi đoàn con  đang hết tình yêu mến và vâng phục.  Hội Dòng đã cử  bà Maria Nguyễn thị Thịnh lên làm Tổng Phụ trách thay thế. Mẹ Nguyễn thị Thịnh là một nữ tu được chọn  trong số 17 – lớp huấn luyện đầu tiên của Mẹ Đoá –  khấn năm 1953.

Ngày 22 tháng 10 năm 1984, mẹ Anê Trần thị Đoá đột ngột từ trần do xuất huyết não. Con cái khóc thương mẹ khôn cùng, vì chính mẹ đã sinh hạ hàng trăm con cái Dòng Mến Thánh Giá Vinh trong đời tận hiến, trải qua trên 32 năm vất vả gian lao của những “bước đầu”. Mẹ đã cho đi mà không nuối tiếc, đã hết tình yêu thương xây đắp mà không đợi đền bù. Hội Dòng mãi mãi tri ân mẹ Tổ phụ, đồng thời không thể quên ơn Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá.

   Bà Maria Nguyễn thị Thịnh là Tổng Phụ trách tiên khởi của Hội Dòng Mến Thánh giá Vinh. Vì phải  lái chèo con thuyền lớn, nên mẹ không tránh khỏi nhiều lo ngại. Nhưng theo lời dạy của Chúa Giêsu : “Gánh Ta nhẹ nhàng” (Mt.11,30), tin tưởng và cậy vào sức Thiêng, mẹ đã can đảm cùng với Ban điều hành của Hội Dòng, dẫn dắt chị em bước đi vững chắc. Dần dà các cơ sở Dòng được tu sửa tân trang. Riêng Nhà MẹXã Đoài đã có được mấy ngôi nhà khang trang hơn, một nhà lầu khá dài rộng, đủ chỗ sinh hoạt cho riêng chị em tại sở và còn đủ đón tiếp chị em các Cộng đoàn về tĩnh tâm hàng năm.

   Mẹ Nguyễn thị Thịnh,  sau 2 nhiệm kỳ làm việc, được nghỉ vì cao tuổi. Hội Dòng đã bầu chọn chị Anê Nguyễn thị Tâm làm Tổng phụ trách thay thế. Với tầm nhìn trẻ trung và cầu tiến, đồng thời về mặt xã hội cũng có phần  cởi mở dễ dàng hơn, nên khi bắt tay vào việc, chị Nguyễn thị Tâm đã khơi dậy vài hướng đi mới mẻ. Lúc nầy chị em có lời khấn trong Dòng là 158 người.

Trong giai đoạn nầy, nhờ sự nhiệt tình giúp đỡ của Dòng Mến Thánh Giá Huế,  chị em được học  tập Hiến chương – cuốn Hiến Chương thống nhất của các Hội Dòng Mến Thánh Giá Việt nam. Đến ngày 13 tháng 9 năm 1991, Đức Giám mục Phêrô Trần Xuân Hạp đã chính thức phê chuẩn Hiến chương cho Hội Dòng Mến Thánh Giá  Vinh. Thế là, cùng với tất cả chị em Mến Thánh Giá toàn quốc, chị em Mến Thánh Giá Vinh trở thành Nữ tu Việt Nam. Chị em đón nhận Hiến Chương trong tinh thần tri ân cảm tạ như đón nhận quà tặng Thiên Chúa trao ban.  Từ đây chị em có một hướng đi vững chắc thực sự, bởi khi được tuân giữ tích cực, thì Hiến Chương trở thành kim chỉ nam cho đời sống dâng hiến của chị em.

Cầm cuốn Hiến Chương Dòng Mến Thánh Giá, chị em Hội Dòng Vinh không quên ơn Nhóm Nghiên Cứu Liên Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam, trong đó Cha Phi Khanh Vương Đình Khởi – Dòng Phanxicô Thành Phố Hồ Chí Minh – là Cha Cố Vấn Hội Dòng MTG Việt Nam,  nhưng Ngài đã đặc biệt quan tâm quê hương Nghệ – Tĩnh – Bình. Ngài đã từng bước dìu dắt chị em Mến Thánh Giá Vinh từ chỗ non yếu mọi mặt  tiến đến thành quả như ngày hôm nay.

Bên cạnh đó, chúng con cũng ghi ơn sâu sắc đối với Cha Giuse Đinh Huy Hưởng, Giáo xứ Đức Tin, quận Gò vấp Thành Phố Hồ Chí Minh, đã đầu tư tích cực trong việc đào tạo nhân sự buổi đầu – là lúc lắm khó khăn nhất. Lúc này tại Sài Gòn, một số Cha và một số vị ân nhân cũng đã giúp đỡ chúng con trong việc đào tạo đó. Qua đây Hội Dòng MTG Vinh xin thành kính tri ân.

Lúc bấy giờ Hội Dòng Mến thánh Giá Vinh được sống dưới quyền Tuyên Uý của Cha Phêrô Hoàng Bảo. Ngài là hiện thân của sự  bao dung và là niềm vui luôn động viên con cái sống lạc quan tin tưởng. Sau hơn hai  năm làm việc, Ngài đã phải giữ chức vụ Giám đốc Trường Đại Chủng Viện Vinh – Thanh. Vì lý do sức khoẻ không đảm bảo, Ngài xin nghỉ việc Tuyên úy Hội Dòng. Nhưng về sau và cho đến hôm nay (2002), Ngài còn giúp dạy môn Tu đức cho chị em Tập Viện.

Năm 1992 là năm Thánh của riêng Giáo phận Vinh. Năm này Ban Tôn giáo (BTG) Trung ương về thăm Tòa Giám mục Xã Đoài, thăm cả Tu viện MTG. Nhân dịp nầy, có Đức Giám mục hiện diện, chị em đã trình bày ba nguyện vọng với BTG :

*  Cho Tu viện được tiếp nhận Ơn gọi cách dễ dàng .

*  Cho  số chị em trước đây vì lý do phải lưu vong ở ngoài, được trở về Cộng đoàn.

*  Chị em được thuyên chuyển giữa các cộng đoàn theo  Hiến chương và Nội quy của Hội Dòng.

BTG Trung uơng đã chấp nhận các nguyện vọng ấy và hứa cùng với các Cấp Chính quyền địa phương sẽ giải quyết. Theo đúng lời hứa của BTG, năm 1993, toàn Hội Dòng có 20 em được hộ khẩu chính thức nhập Hội Dòng và hàng năm lại có thêm một số khác.

Ngày 25 tháng 3 năm1993, thời gian không hẹn – thấm thoắt 23 năm, vườn ươm Tập Viện cửa đóng then cài bấy lâu, nay được mở “chốt”. Những người con ưu tuyển của Hội Dòng trên ba miền Nghệ – Tĩnh – Bình của giáo phận, lại tề tựu về dưới mái trường Chúa Thánh Thần để tiếp tục cuộc sống tìm Chúa. Hội Dòng đã cử chị Maria Nguyễn thị Vinh đặc trách,  cùng với ba chị khác, làm thành Ban Huấn luyện của Tập viện. Kể từ đây Cha Phêrô Lê Duy Lượng, Giáo sư  Đại Chủng Viện, dạy môn Kinh Thánh cho chị em. Dầu thời tiết lắm khi bất thuận lợi, nhưng cứ mỗi chiều thứ bảy hàng tuần, Ngài vẫn luôn lên lớp với hàng trăm học viên đủ các thành phần trong cộng đoàn.

10)   Năm 1996 – 1998.

Đầu năm 1996 Nhà Tập được Chính quyền công khai chấp thuận, nhưng lớp Dự bị nầy đã được huấn luyện theo chương trình kể từ ngày được nhập hộ trong Dòng. Do đó,  ngày 21 tháng 11 năm 1996, Hội Dòng có 13 chị dâng Lời Khấn lần đầu. Thật là một hồng ân, vì sau 25 năm đóng cửa (1971 – 1996), mầm non ơn gọi bị tắc nghẽn, nay mới được khai thông. Nhờ bàn tay quyền năng của Chúa với sự bảo trợ của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, đặc biệt sau năm thánh của Giáo phận , Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh đã phát triển trong khí thế thay đổi toàn diện. Vườn hoa thiêng lại kết thêm cho Giáo hội nhiều Tân Khấn sinh và Tập sinh – những quả tim nóng hổi trong trắng với lứa tuổi đôi mươi đã anh dũng bước lên Núi Thánh, hiến mình cho Bạn Tình Giêsu. Từ đây, con cái của niềm tin sẽ luôn là muối, là men ướp mặn cho đời, đắp xây Giáo Hội và xã hội tiến tới thiên niên kỷ thứ 3 trong tin yêu hy sinh và phục vụ.

Vào tháng 9 năm 1998, Đức Cha Phêrô Trần Xuân Hạp đặt Cha Phêrô Lê Duy Lượng, Giám đốc Đại chủng viện Vinh – Thanh,  làm Tuyên uý Hội Dòng.  Mặc dầu đôi vai hai gánh trách nhiệm nặng nề của một vị Bề trên, một Mục tử, người Cha, người Thầy, nhưng Ngài đã tỏ ra rất tài tình trong việc lãnh đạo, khôn ngoan trong lời răn dạy, nhiệt tâm trong cách cư xử. Tất cả được lọc qua một tình thương chân thành và một đời sống mô phạm. Nhờ đó, lời chỉ dạy của Ngài thấm sâu vào tâm hồn, hợp với xã hội hôm nay, mà không mất đi nét thánh thiêng của  người nữ tu Mến Thánh Giá.Ngày 21 tháng 11  năm 1998 lại có thêm 11 chị mãn Tập viện để được khấn lần đầu. Và kể từ năm nầy, đều đặn và liên tục cho tới nay (2002),  Dòng MTG Vinh có các lớp khấn nối tiếp. Tổng số khấn  tạm từ năm 1996 đến năm 2002, là 94 chị.

11)  Năm 1999 – 2002

Sinh hoạt của Tập viện cho đến đây, nhìn chung, khá quy cũ. Nhưng để có một chương trình hướng đức sâu, có bề dày kinh nghiệm trong đường sống thiêng liêng, tháng 04 năm 1999,  sau khi xin và được phép Đức Cha Giáo phận, các chị hữu trách đã mời Cha Giuse Nguyễn Đức Châu đến hướng dẫn hàng tuần  cho chị em các lớp Tập Viện về đời sống tâm linh và tiếp tục cho đến bây giờ (2002).

Sau hai nhiệm kỳ làm Tổng Phụ trách,  chị Anê Nguyễn thị Tâm đã mãn nhiệm. Suốt 8 năm trong nhiệm vụ làm Tổng Phụ trách, với bản tính hòa đồng và tinh thần năng nỗ,  nhiệt thành trong nhà Chúa, chị đã vượt khó khăn để đưa Hội Dòng đi vào chiều kích mới phù hợp với thời đại.

Tháng 04 năm 1999, theo tinh thần Hiến chương, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Hội Dòng đã cử chị Anna Đậu thị Nhung làm Tổng Phụ trách. Nhờ sự khiêm tốn thầm lặng, chị đã đảm nhận trách nhiệm, và cùng chị em chung vai sát cánh, làm thăng tiến Hội Dòng. Từ đó tới nay, với đà tiến và thuận lợi khách quan, Dòng Mến Thánh Giá Giáo phận Vinh đã thực sự hội nhập và thực thi một cách đồng bộ những mục tiêu và mong muốn của Đấng Sáng lập Dòng cũng như của các Đấng Bề trên Giáo phận.