Từ 1856 đến 1951

LƯỢC SỬ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ VINH

***

A. ĐÔI NÉT VỀ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ VIỆT NAM.

 

Dòng Mến Thánh Giá do Đức Cha Phêrô Maria Lambert de la Motte sáng lập tại Đàng Ngoài năm 1670 và Đàng Trong năm 1671. Đây là Dòng nữ đầu tiên mang bản sắc Á Đông, vừa chiêm niệm vừa hoạt động, có lời khấn, sống thành cộng đoàn theo một bản luật, trực thuộc Đấng Bản quyền sở tại và hướng về việc truyền giáo cho lương dân. Ý định nầy của Đấng Sáng lập đã được Công đồng Đông Dương năm 1934 xác nhận. (x. Hiến chương Dòng MTG tr. 5).

Ngày 19.02.1670, ngày chính thức khai sinh Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam. Đức Cha Phêrô Maria Lambert de la Motte đã đích thân nhận lời khấn của hai Nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên là chị Anê và chị Paula tại Phố Hiến. Và vì tình thế bắt buộc. Cha con đã phải vội vàng chia tay ngay sau Lễ Khấn.   Để bù lại, Đức Cha đã gửi cho hai chị một lá thư với những lời khuyên nhủ rất chân tình và tha rhiết về bậc sống tu dòng. Lá thư nầy được gọi là Bức Tâm Thư, vì đó là lời nhắn nhủ tâm huyết mà Đấng Sáng lập muốn gửi tới từng Nữ tu Mến Thánh Giá là con cái yêu dấu của Ngài:

“chúng tôi, Phêrô Lambert, Giám mục Hiệu Toà Bérythe, Đại Diện Tông Toà, do ơn Thiên Chúa và Toà Thánh Tông Truyền, gửi lời chào và phép lành đến quý chị Anê và Paula thân mến, là hai Nữ tu đầu tiên gia nhập Tu hội chị em Mến Thánh Giá Chúa Giêsu-Kitô.

Sau khi các con tuyên khấn công khai vào ngày Lễ Tro, trước sự hiện diện của Cha, đáng lẽ như lòng ao ước, Cha còn phải nói với các con đôi lời về bậc sống cao trọng và sự trọn lành mà các con nhắm tới theo tiếng gọi của Thiên Chúa từ bi nhân hậu. Nhưng ngày hôm ấy, Cha gặp tình thế buộc phải đi ngay để kịp chuyến trở về, nên Cha đã có ý viết mấy lời này, để bảo cho các con biết rằng các con không còn thuộc về mình nữa, nhưng hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu-Kitô, vì các con đã hiến thân trọn vẹn  cho Người, để từ nay chỉ chuyên chú tìm hiểu và yêu mến Người bằng cách suy niệmvà noi theo cuộc đời đau khổ của Người, cùng thực thi các nhiệm vụ của Tu hội. Cha hết sức khuyên các con hãy trung tín với những nhiệm vụ trên, vì biết chắc chắn nhờ đó, các con và cả Giáo Hội này sẽ lãnh nhận lợi ích lớn lao.

Cha cũng nhắn nhủ cách rất đặc biệt, các con hãy hết sức chăm sóc các Tập sinh, xem họ như những kho tàng thánh thiêng mà Thiên Chúa ký thác trong tay các con. Hãy nhớ năng khắc ghi vào tâm trí điều này: Mục đích chính của Tu hội các con, là tiếp nối nơi bản thân mình cuộc đời đau khổ của Chúa Gisu-Kitô và hàng ngàyphải dâng việc suy gẫm cầu nguyện, nước mắt, các việc làm và mọi hy sinh để cầu xin người ban cho lương dân và giáo hữu tội lỗi ơn ăn năn trở lại. Nhưng điều quan trọng nhất, là các con phải thực hành mọi việc thay cho Chúa Giêsu-Kitô; Người muốn đích thân làm những việc ấy mà không thể được, nên dùng một số tâm hồn do Người tuyển chọn mà ban đầy tinh thần của Người là tinh thần trung gian, để tiếp nối cuộc đời lữ thứ và hy sinh của Người cho đến tận thế.

Các con là những Nữ tu thân mến của Cha, chắc hẳn các con nhận thấy được rằng, ơn gọi của mình thật là cao cả và các con đã chết đi đối với thế gian, nghĩa là đối với giác quan bản tính tự nhiên và lý trí người đời, để từ nay chỉ còn sống bằng giáo huấn, gương sáng và sự sống của Chúa Giêsu-Kitô.

Cha xin các con hãy luôn suy nghĩ về điều đó và đừng quên Cha trước mặt Thiên Chúa”.

Tại Cửa Khẩu Đàng Ngoài, ngày 26 tháng 02 năm 1670.

(A.    Launay, Đàng Ngoài, I, tr. 104-105).

Tiếp sau Lễ Khấn đầu tiên là khoảng 200 năm bách hại đạo Công Giáo, đặc biệt dưới thời ba triều vua: Minh Mạng, thiệu Trị và Tự Đức. Cùng chung số phận với Giáo Hội Việt Nam, Dòng Mến Thánh Giá ngay từ buổi đầu đã phải gian khổ vì những cuộc bách hại khốc liệt. Trong suốt hai thế kỷ, nhiều chị em đã hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho niềm tin không gì lay chuyển. Và như thế, Dòng Mến Thánh Giá đã không ngừng đồng hành với Giáo Hội Việt Nam qua bao thăng trầm của lịch sử.

Trong cuốn Kỷ yếu Phong Thánh Việt Nam, xuất bản tại Rôma năm 1989, chúng ta còn tìm thêm những mốc lớn sau đây:

Năm 1701,  giáo phận Đàng Ngoài có 23 nhà Dòng, nhưng không rõ con số nữ tu bao nhiêu. Lúc này, nghe đâu giáo phận Đàng Trong cũng đã có nhiều nhà Dòng, nhưng không biết chính xác về số lượng Nữ tu.

Năm 1800, bắt đầu thời gian này, mặc dù Giáo Hội Việt Nam bị bách hại ác liệt, nhưng Dòng Mến Thánh Giá vẫn phát triển. Giáo Hội Đàng Trong có bảy nhà Dòng với 200 Nữ tu.  Giáo Hội Đàng Ngoài lúc này không biết số nữ tu là bao nhiêu, chỉ biết rằng:  khi Giáo phận Vinh được thành lập (27 tháng 03 năm 1846) thì số Nữ tu Mến Thánh Giá khắp cả nước Việt được thống kê là 674 chị em.

Đến năm 1884, thời Tự Đức, giáo phận Đàng Ngoài có 2.000 chị em. Giáo phận  Đàng Trong có 1.200 chị em trong 26 nhà Dòng. Như vậy là sau 210 năm, cả nuớc có 3.200 Nữ tu Mến Thánh Giá trong gần 70  cơ sở.

Qua những điểm trên, ta thấy ngay từ lúc mới hình thành, dẫu gặp bao truân chuyên, Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam ở những buổi đầu đã không ngừng lớn mạnh. Chúng ta tin rằng đó là dấu hiệu có bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.

B. DÒNG MẾN THÁNH GIÁ VINH.

Sự trưởng thành và phát triển của Hội Dòng Mến Thánh Giá Giáo phận Vinh, phần lớn lệ thuộc vào sự quan tâm và chăm sóc của các Đức Giám mục và Bề trên  Giáo phận. Quả vậy, nếu không có những người Cha lần lượt thay phiên nhau săn sóc đoàn con Mến Thánh Giá của các Ngài, của Giáo phận, thì làm gì có Dòng Mến Thánh Giá giáo phận Vinh hôm nay.

Giáo phụ Tertulianô đã có một câu bất hủ : “Máu Tử Đạo là hạt giống Kitô hữu”.  Nếu được, chúng tôi muốn rút một phần ý nghĩa câu đó để nói: “máu của các Nữ tu là hạt giống của các Nữ tu”. Thật thế, vào khoảng năm 1.800 đến 1.840 là thời kỳ Giáo hội Việt Nam bị bách hại, có 3 Nữ tu Mến Thánh Giá tại Trù sơn (Cộng đoàn Lưu Mỹ hiện nay), là chị maria Hồi (khoảng 40 tuổi), chị Anna Nhiên (36 tuổi) và chị Matta Mến, đã rơi vào tay quân lùng bắt,  bị tra tấn dã man, cuối cùng cả 3 đều bị điệu vào nhà Thánh của nhà thờ Giáo xứ Lưu Mỹ cùng với 17 giáo dân. Cả 20 nguời đã chịu chết thiêu với toàn bộ ngôi nhà thờ. Những xác Thánh  ấy được rước về một chỗ, làm thành một Nhà Thánh, hiện nay nằm trong khuôn viên nhà ở của Cộng đoàn chị em Mến Thánh Giá  Lưu Mỹ và được chị em tôn kính bảo vệ.

Trong thời kỳ Giáo hội Việt Nam bị bách hại, đặc biệt là cuộc sóng gió Văn Thân, các Nữ tu đã bị lao đao tán loạn. Con số lúc tăng lúc giảm, vì có người ra đi mà không có người mới tới. Qua cơn sóng gió, những người sống sót lại quay về Tu viện để tiếp tục đời sống tu trì và phục vụ. Mặc dầu số phận long đong như vậy, dưới sự quan phòng Chúa, Dòng Mến Thánh Giá Vinh vẫn tồn tại và phát triển.

 

I.  THỜI KỲ ĐẦU  (từ 1856 – cuối 1951)

1. Năm 1846

Giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làm 2, phần đất Nghệ – Tĩnh – Bình được gọi là Giáo Phận Nam Đàng Ngoài, có 1 Giám mục chủ chăn là Đức Cha Hậu (Gauthier), 4 thừa sai ngoại quốc, 35 Linh mục Việt nam, 96 Chủng sinh, 75 thầy Giảng, 220 chị em nhà Phước Mến Thánh Giá, 19 xứ Đạo, 345 họ Đạo và 66.350 giáo dân. Số nữ tu sống tập trung tại 9 cơ sở :  Hướng Phương, Kẻ Trầu (Lưu Mỹ), Cầu Đòn (Quy Chính),  Kẻ Gai (về sau cơ sở nầy không nghe nhắc đến), Giáp Hạ (Chân Thành), Làng Đoài (Xã đoài), Vạn Lộc, Trang Nứa và Nghĩa Yên. Mỗi cơ sở đều độc lập cả về quản trị lẫn tài chính. Các chị đã rửa tội cho trẻ em là 2.646 em

2. Năm 1892

Đức Cha Louis Pineau Trị khánh thành nhà thờ lớn Xã Đoài. Đức Cha đã hiến dâng toàn Giáo phận cho Đức Mẹ Linh hồn và xác Lên Trời. Năm ấy, Giáo phận có 175 Nữ tu Mến Thánh Giá.  các chị đã tích cực làm việc Tông đồ tại nhiều giáo xứ trong Giáo phận và đã thu được thành quả đáng kể. Đơn cử, số người được chị em Rửa tội là 4.070 người.

Sóng yên biển lặng, chị em lại dấn thân vào việc nuôi dạy trẻ mồ côi, rảo khắp các xóm làng với gánh thuốc viên trên vai, vừa để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, vừa để làm việc bác ái, tiếp cận mọi người, nhất là nữ giới để nói chuyện Đạo với họ và giúp họ trong nghề nghiệp cuộc sống.

3. Năm 1936

Ngày 11 – 02 – 1924, Đức Cha Anrê Giuse Bắc (Eloy) chính thức công nhận Dòng Mến Thánh Giá trực thuộc Giáo phận, nhưng các cơ sở vẫn còn độc lập. Hồi nầy, đời sống chị em còn quá khiêm tốn mọn hèn, không được bồi dưỡng kiến thức cả về văn hoá lẫn giáo lý. Hầu như các chị chỉ quanh quẩn với đàn trẻ sơ sinh, mồ côi và gánh thưốc viên trên vai qua các miền thôn dã. Việc dạy giáo lý, truyền giáo, đã có đội ngũ các Thầy Giảng chuyên trách. Vì thế mà ơn gọi giảm sút, ít ai quan tâm đến tập thể “Nhà Mụ”. Thống kê năm 1938 chỉ ghi 7 cơ sở Dòng với 164 nữ tu.