GIÁO LÝ CỦA ĐỨC PHANXICÔ

Bài Giáo Lý 1:

Dẫn Nhập vào Thánh Lễ

“Chúng ta… phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ nhất của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 8 tháng 11, 2017 tại Vatican. Hôm nay ĐTC bắt đầu loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Loạt bài giáo lý này rất quan trọng vì Thánh Thể là “trái tim” của Hội Thánh. ĐTC nói rằng chúng ta “phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của mình với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn”;  đồng thời “lớn lên trong sự hiểu biết … về một hồng ân cả thể mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể”.

Anh chị em thân mến, Chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta bắt đầu một loạt bài giáo lý mới, là những bài sẽ hướng chúng ta đến “trái tim” của Hội Thánh, là Thánh Thể.  Điều căn bản là chúng ta, các Kitô hữu, phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của mình với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn.

Chúng ta không thể quên được số rất đông các Kitô hữu, những người, trên toàn thế giới, trong 2000 năm lịch sử, đã chết để bảo vệ Thánh Thể; và bao nhiêu người ngày nay, còn đang liều mạng để tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật.  Vào năm 304, trong cuộc Bách Hại của Dioclatian, một nhóm Kitô hữu ở Bắc Phi đã ngạc nhiên vì họ đang cử hành Thánh lễ trong nhà và bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Thống Đốc Roma hỏi họ tại sao họ đã làm như thế khi biết rằng điều ấy tuyệt đối không được phép. Họ trả lời: “Không có Chúa Nhật, chúng tôi không thể sống được”, nghĩa là: nếu chúng tôi không thể cử hành Thánh Lễ, chúng tôi không thể sống được; đời sống Kitô hữu của chúng tôi sẽ chết.

Thật vậy, Chúa Giêsu phán với các môn đệ rằng: “Nếu các con không ăn thịt và uống Máu Con Người, thì các các con không có sự sống; ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:53-54).

Các Kitô hữu từ Bắc Phi đã bị giết vì họ đang cử hành Thánh Lễ.  Họ đã làm chứng rằng người ta có thể từ bỏ đời sống trần thế vì Bí Tích Thánh Thể, bởi Bí Tích này cho chúng ta sự sống đời đời, nó làm cho chúng ta được thông phần vào việc chiến thắng sự chết của Đức Kitô. Chứng từ này thách đố tất cả chúng ta và đòi buộc phải có một câu trả lời về việc tham gia vào Hy Lễ Thánh Thể và đến gần Bàn Tiệc của Chúa có ý nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta có đang tìm kiếm nguồn suối “vọt ra nước hằng sống” cho sự sống đời không? [nguồn suối] biến cuộc đời chúng ta thành một hy lễ chúc tụng và tạ ơn thiêng liêng và biến chúng ta thành một thân thể trong Đức Kitô không?  Đây là ý nghĩa sâu xa nhất của Thánh Lễ, có nghĩa là “tạ ơn”: tạ ơn Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần, Đấng đưa chúng ta vào và biến đổi chúng ta trong sự hiệp thông yêu thương của Ngài.

Trong các bài giáo lý sắp tới, tôi muốn trả lời một số câu hỏi quan trọng về Bí Tích Thánh Thể và Thánh Lễ, để tái tìm hiểu, hoặc tìm hiểu, xem tình yêu của Thiên Chúa tỏa sáng qua mầu nhiệm đức tin này như thế nào.

Công đồng Vaticanô II được cảm hứng sâu xa bởi ước muốn dìu dắt các Kitô hữu hiểu được sự cao cả của đức tin và vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Vì lý do này mà trước hết cần phải thực hiện, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, một cuộc canh tân Phụng Vụ thích hợp, bởi vì Hội Thánh nhờ đó mà liên tục sống và đổi mới chính mình.

Một chủ đề chính mà các Nghị phụ Công đồng nhấn mạnh đến là việc đào luyện về Phụng Vụ cho các tín hữu, là điều không thể thiếu được cho việc canh tân đích thực.  Và đây cũng chính là mục đích của loạt bài giáo lý mà chúng ta đang bắt đầu hôm nay: lớn lên trong sự hiểu biết của chúng ta về một hồng ân cả thể mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể là một sự kiện kỳ ​​diệu trong đó Chúa Giêsu Kitô, sự sống của chúng ta, làm cho Chính Người hiện diện. Tham dự Thánh Lễ “là thực sự sống lại Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết cứu độ của Chúa chúng ta. Đó là một sự biểu lộ hữu hình: Chúa làm cho chính Mình hiện diện trên bàn thờ để được dâng lên cho Chúa Cha hầu cứu rỗi thế gian” (Bài giảng ở Domus Sanctae Marthae, ngày 10 tháng 2 năm 2014). Chúa ở đây với chúng ta, hiện tại. Chúng ta thường đi đến đó, nhìn các sự vật, nói chuyện với nhau trong khi linh mục đang cử hành Thánh Lễ … và chúng ta không cử hành gần Người. Nhưng đó là Chúa! Nếu hôm nay Tổng Thống của nước Cộng hòa, hoặc một nhân vật nào đó quan trọng trên thế giới đến, chắc chắn rằng tất cả chúng ta sẽ lại gần ông ta, muốn chào đón ông ta. Nhưng hãy nghĩ: khi anh chị em đi dự Thánh Lễ, có Chúa ở đó! Và anh chị em bị phân tâm. Đó là Chúa! Chúng ta phải suy nghĩ về điều này. “Thưa Cha, vì các Thánh Lễ tẻ nhạt” – “Nhưng anh chị em nói gì, Chúa tẻ nhạt sao?” – “Không, không. Không phải là Thánh Lễ, mà các linh mục” – “Này, chớ gì các linh mục hoán cải, nhưng chính Chúa là Đấng ở đó!” Anh chị em có hiểu không? Đừng quên điều ấy. “Tham dự Thánh Lễ là đang sống một lần nữa Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết cứu độ của Chúa chúng ta”.

Bây giờ chúng ta hãy thử tự hỏi mình một vài câu hỏi đơn giản. Chẳng hạn, tại sao chúng ta làm dấu Thánh Giá và thực hành Nghi thức Sám Hối vào đầu Thánh Lễ? Và ở đây tôi muốn thêm một lưu ý phụ. Anh chị em có thấy các trẻ em làm dấu Thánh Giá như thế nào không? Anh chị em không biết chúng đang làm gì, hoặc làm dấu Thánh Giá hoặc vẽ vời một đường nét. Chúng làm việc [cử chỉ] này. Trẻ em phải được dạy làm dấu Thánh Giá đúng cách. Đây là cách bắt đầu Thánh Lễ; đây là cách bắt đầu cuộc sống; đây là cách bắt đầu một ngày. Điều này có nghĩa là chúng ta được Thánh Giá của Chúa cứu chuộc. Hãy quan sát các trẻ em và dạy chúng cách làm dấu Thánh Giá cho đúng. Và những Bài Đọc này, trong Thánh Lễ, tại sao chúng lại ở đó? Tại sao có ba Bài Đọc vào Chúa Nhật và hai bài vào ngày khác? Tại sao lại đọc chúng? Các Bài Đọc trong Thánh Lễ có nghĩa gì? Tại sao lại đọc chúng và mục đích của chúng là gì? Hoặc, tại sao linh mục chủ tọa buổi Lễ lại nói ở một lúc nào đó: “Hãy nâng tâm hồn lên”? Ngài không nói: “Hãy nâng điện thoại di động lên để chụp ảnh!” Không, thật tệ! Tôi nói thật với anh chị em, tôi rất buồn lúc tôi cử hành Thánh Lễ ở Quảng trường Thánh Phêrô hoặc ở Vương Cung Thánh Đường khi thấy nhiều điện thoại di động được nâng lên, không những chỉ bởi các tín hữu mà còn bởi một số linh mục và thậm chí cả giám mục! Nhưng làm ơn! Thánh Lễ không phải là một buổi trình diễn: nhưng là buổi gặp gỡ Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa. Đó là lý do tại sao linh mục nói: “Hãy nâng tâm hồn lên”. Điều ấy có nghĩa gì? Hãy nhớ: không được dùng điện thoại di động.

Điều thực sự quan trọng là trở lại với cơ bản, tái khám phá điều gì là cần thiết, qua những gì chúng ta sờ mó và nhìn thấy được trong việc cử hành các Bí Tích. Câu hỏi của Thánh Tông Đồ Tôma (xem Ga 20:25), đấng tìm cách nhìn thấy và chạm tay vào vết thương trên thân thể của Chúa Giêsu, và mong ước có khả năng “chạm vào” Thiên Chúa một cách nào đó để tin vào Người. Điều mà Thánh Tôma xin Chúa là điều tất cả chúng ta cần: được gặp gỡ Người, chạm vào Người ngõ hầu chúng ta có thể biết Người. Các Bí Tích đáp ứng nhu cầu của con người. Các Bí Tích, cách đặc biệt là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể, là những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, những cách đặc biệt để chúng ta gặp gỡ Ngài.

Như thế, qua những bài giáo lý này mà chúng ta bắt đầu hôm nay, tôi muốn cùng anh chị em tái khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn trong việc cử hành Thánh Lễ và, một khi được tỏ lộ, nó mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống của mỗi người. Cầu xin Đức Mẹ đồng hành với chúng ta trên đoạn đường mới này. Cảm ơn anh chị em.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 2:

Thánh Lễ là Kinh Nguyện

Thánh Lễ “là cuộc gặp gỡ của tình yêu với Thiên Chúa qua Lời của Ngài, cùng Mình và Máu Chúa Giêsu”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ hai của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 15 tháng 11, 2017 tại Vatican. Hôm nay ĐTC tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Ngài nói rằng “Thánh Lễ là kinh nguyện, hay đúng hơn, đó là kinh nguyện tinh túy, cao cả nhất, cao siêu nhất, và đồng thời “cụ thể” nhất, do đó chúng ta không được nói chuyện hay chụp hình trong Thánh Lễ, mà phải chú t6am vào cuộc gặp gỡ với Chúa để Người phục hồi chúng ta lại với ơn gọi ban đầu của chúng ta: là hình ảnh và giống Thiên Chúa.”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta hãy tiếp tục bài giáo lý về Thánh Lễ. Để hiểu được vẻ đẹp của việc cử hành Thánh Lễ, tôi muốn bắt đầu bằng một khía cạnh rất đơn giản: Thánh Lễ là kinh nguyện, hay đúng hơn, đó là kinh nguyện tinh túy, cao cả nhất, cao siêu nhất, và đồng thời “cụ thể” nhất. Thật vậy, đó là cuộc gặp gỡ của tình yêu với Thiên Chúa qua Lời của Ngài, cùng Mình và Máu Chúa Giêsu. Đó là một cuộc gặp gỡ với Chúa.

Nhưng trước hết chúng ta phải trả lời một câu hỏi. Kinh nguyện thật sự là gì? Đó là cuộc đối thoại trước nhất và quan trọng nhất, một mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa. Và con người được tạo ra như một hữu thể trong mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa chỉ thấy sự hiện thực trọn vẹn của mình trong cuộc gặp gỡ Đấng Tạo Dựng nên mình. Con đường sống là hướng đến cuộc gặp gỡ dứt khoát với Chúa.

Sách Sáng Thế Ký khẳng định rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, Đấng là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một mối liên hệ hoàn hảo của tình yêu là sự hiệp nhất. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng tất cả chúng ta đều được tạo dựng để bước vào một mối liên hệ hoàn hảo của tình yêu, trong sự liên tục trao ban và đón nhận để như thế tìm thấy sự viên mãn của mình.

Khi ông Môsê, trước bụi gai đang cháy, nhận được ơn Thiên Chúa gọi, ông hỏi tên Ngài là gì. Và Thiên Chúa đã trả lời như thế nào? “Ta là Đấng Ta Là” (Xh 3:14). Cụm từ này, theo nghĩa ban đầu của nó, diễn tả sự hiện diện và quý mến, và ngay sau đó Thiên Chúa nói thêm, “Chúa, Thiên Chúa của tổ phụ ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacóp” (câu 15 ). Theo cách này, Đức Kitô cũng vậy, khi Người kêu gọi các môn đệ, kêu gọi họ ở với Người. Do đó, đây là ân sủng lớn lao nhất: để có thể trải nghiệm Thánh Lễ, Bí Tích Thánh Thể là khoảnh khắc đặc biệt để ở với Chúa Giêsu và nhờ Người, với Thiên Chúa và anh em chúng ta.

Cầu nguyện, giống như bất kỳ cuộc đối thoại chân thật nào, cũng có nghĩa là biết cách giữ im lặng, trong các cuộc đối thoại có những giây phút im lặng, trong im lặng cùng với Chúa Giêsu. Và khi chúng ta đi dự Thánh Lễ, có lẽ chúng ta đến trước năm phút và bắt đầu trò chuyện với người bên cạnh mình.  Nhưng đó không phải là giây phút để nói truyện: đó là giây phút để im lặng, để chuẩn bị cho cuộc đối thoại. Đó là giây phút để hồi tâm ngõ hầu chuẩn bị cho cuộc đối thoại với Chúa Giêsu. Sự im lặng rất quan trọng. Hãy nhớ những gì tôi đã nói tuần trước: chúng ta không dự một buổi trình diễn, chúng tôi sắp gặp gỡ Chúa, và sự im lặng chuẩn bị chúng ta và đi cùng chúng ta. Giữ im lặng cùng với Chúa Giêsu. Từ sự im lặng mầu nhiệm của Thiên Chúa nảy sinh ra Lời Ngài, là điều vang dội trong tâm hồn chúng ta. Chính Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng thật sự có thể “ở lại” với Chúa Cha và Người chứng tỏ điều này bằng kinh nguyện của Người. Các Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện; các môn đệ, khi thấy mối liên hệ mật thiết này với Chúa Cha, cảm thấy muốn tham gia, và các ông xin Người, “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Chúng ta đã nghe điều này trong Bài Đọc Thứ Nhất, ở đầu buổi triều yết. Chúa Giêsu trả lời rằng điều đầu tiên cần thiết để cầu nguyện là có thể thưa “Lạy Cha”. Hãy coi chừng: nếu tôi không thể thưa “Lạy Cha” với Thiên Chúa thì tôi không thể cầu nguyện. Chúng ta phải học cách thưa, “Lạy Cha”, tức là đặt mình trong sự hiện diện của Ngài với lòng tin tưởng của con thảo. Nhưng để có thể học, thì cần phải khiêm tốn nhìn nhận rằng chúng ta cần phải được hướng dẫn, và nói một cách đơn giản: Lạy Chúa, xin dạy con cầu nguyện.

Đây là điểm thứ nhất: khiêm tốn, nhìn nhận mình là con cái, để nghỉ ngơi trong Chúa Cha, để tín thác nơi Ngài. Để vào Nước Trời chúng ta phải làm cho mình nhỏ bé như trẻ nhỏ. Theo nghĩa là trẻ nhỏ biết cách tin tưởng, chúng biết rằng có một ai đó sẽ lo cho chúng, về những gì chúng sẽ ăn, những gì chúng sẽ mặc và vân vân (c. Mt 6: 25-32). Đây là thái độ đầu tiên: tín thác và tin tưởng, như trẻ em đối với cha mẹ; biết rằng Thiên Chúa nhớ đến anh chị em và chăm sóc anh chị em, anh chị em, tôi, tất cả mọi người.

Thiên hướng thứ hai, một lần nữa điển hình của trẻ em, là để cho mình ngạc nhiên. Trẻ em luôn hỏi cả nghìn câu hỏi vì chúng muốn tìm hiểu thế giới; và chúng thậm chí còn thắc mắc về những điều nhỏ nhặt, bởi vì mọi sự đều mới mẻ đối với chúng. Để vào Nước Trời, chúng ta phải để cho mình ngạc nhiên. Trong mối liên hệ của chúng ta với Chúa, trong cầu nguyện – tôi hỏi – chúng ta có cho phép mình bị kinh ngạc, hay chúng ta nghĩ rằng mình đang nói lời cầu nguyện ấy với Thiên Chúa như con vẹt? Không, cầu nguyện là tin tưởng và mở lòng ra để kinh ngạc. Chúng ta có để cho Thiên Chúa, Đấng luôn là Thiên Chúa của ngạc nhiên, làm cho chúng ta kinh ngạc không? Bởi vì cuộc gặp gỡ với Chúa luôn là một cuộc gặp gỡ sống động, không phải là một chuyến viếng thăm viện bảo tàng. Đó là một cuộc gặp gỡ sống động, và chúng ta đi dự Thánh Lễ, chứ không đến một viện bảo tàng. Chúng ta hãy đi đến một cuộc gặp gỡ sống động với Chúa.

Tin Mừng nói về một ông Nicodemô (Ga 3: 1-21), một bậc lão thành, một một người có thẩm quyền ở Israel, đi đến gặp Chúa Giêsu; và Chúa nói với ông về sự cần thiết phải “sinh lại” (xem câu 3). Nhưng nó có nghĩa gì? Một người có thể “tái sinh” được không? Để trở lại ngõ hầu có hương vị, niềm vui, sự kỳ diệu của cuộc sống, là điều có khả thi không, ngay cả khi phải đối diện với rất nhiều thảm cảnh? Đây là một câu hỏi cơ bản về đức tin của chúng ta, và đây là ước muốn của mọi tín hữu thật sự: ước muốn được tái sinh, niềm vui được làm lại từ đầu. Chúng ta có ước muốn này không? Có phải mỗi người trong chúng ta đều muốn được tái sanh, được gặp Chúa không? Anh chị em có ước muốn này không? Thật vậy, chúng ta có thể dễ dàng bị đi lạc bởi vì, như hậu quả của nhiều hoạt động, của nhiều dự án sẽ được thực hiện, chúng ta còn lại ít thời gian và chúng ta mất cái nhìn về điều gì là cơ bản: cuộc sống của tâm hồn chúng ta, cuộc sống tinh thần của chúng ta, cuộc sống là cuộc gặp gỡ với Chúa trong kinh nguyện.

Thật ra, Chúa làm cho chúng ta ngạc nhiên bằng cách cho chúng ta thấy rằng Người yêu thương chúng ta ngay cả trong sự yếu đuối của chúng ta. “Chúa Giêsu Kitô … là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những chỉ chúng ta mà còn tội lỗi của toàn thế giới” (1 Ga 2: 2).  Hồng ân này, một nguồn an ủi đích thực – nhưng Chúa luôn luôn tha thứ cho chúng ta – đây là sự an ủi thật, đây là một món quà được ban cho chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể, đây là tiệc cưới mà Phu Quân gặp sự mỏng dòn của chúng ta. Tôi có thể nói rằng khi tôi rước Lễ trong Thánh Lễ, Chúa có gặp sự yếu đuối của tôi không? Vâng! Chúng ta có thể nói điều ấy vì nó là sự thật! Chúa gặp sự mỏng dòn của chúng ta để phục hồi chúng ta lại với ơn gọi ban đầu của chúng ta: là hình ảnh và giống Thiên Chúa. Đây là môi trường của Bí Tích Thánh Thể, đây là kinh nguyện.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 3

Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô

“Việc tham dự Thánh Lễ làm cho cho chúng ta bước vào mầu nhiệm của Đức Kitô, bằng cách cho chúng ta đi với Người từ cái chết sang sự sống.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ ba của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 22 tháng 11, 2017 tại Quảng trường Thánh Phêrô Vatican. Hôm nay ĐTC giủ thích tại sao Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Ngài nhắn nhủ chúng ta phải ý thức rằng khi tham dự Thánh Lễ là chúng ta lên Núi Sọ cùng Chúa Giêsu chứ không phải đi xem một buổi trình diễn.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục bài giáo lý về Thánh Lễ, chúng ta có thể tự hỏi: Thánh Lễ là gì? Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Thánh Lễ cho chúng ta tham dự vào cuộc chiến thắng tội lỗi và sự chết của Mầu Nhiệm này, và mang lại ý nghĩa đầy đủ cho cuộc sống của chúng ta.

Vì lý do này, để hiểu được giá trị của Thánh Lễ, trước tiên chúng ta phải hiểu ý nghĩa theo Thánh Kinh của “việc tưởng niệm“. Nó “không chỉ là tưởng nhớ các biến cố trong quá khứ, mà còn bằng cách nào đó làm cho các biến cố ấy hiện diện và được hiện tại hóa. Đây chính là cách dân Israel hiểu về cuộc giải phóng của họ từ Ai Cập: Mỗi lần lễ Vượt Qua được cử hành, các biến cố thời Xuất Hành lại hiện diện trong ký ức của các tín hữu, để họ làm sao cho cuộc sống của mình phù hợp với các biến cố ấy” (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số1363). Chúa Giêsu Kitô, với cuộc Khổ Nạn, cái Chết, sự Phục Sinh và lên trời của Người, đã hoàn tất Lễ Vượt Qua. Và Thánh Lễ là tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Người, “cuộc xuất hành” mà Người đã thực hiện cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi tình trạng nô lệ và đưa chúng ta vào miền đất hứa của sự sống đời đời. Nó không chỉ là một lời nhắc nhở, không, nó còn hơn thế nữa: đó là để ghi nhớ những gì đã xảy ra cách đây 20 thế kỷ.

Bí tích Thánh Thể luôn luôn đưa chúng ta đến tột đỉnh của ơn cứu độ của Thiên Chúa: Chúa Giêsu, khi bẻ bánh ra cho chúng ta, đổ trên chúng ta tất cả lòng thương xót và tình yêu của Người, như Người đã làm trên thập giá, để đổi mới con tim chúng ta, cuộc sống chúng ta, và cách chúng ta hiệp thông với Người và với anh em chúng ta. Công Đồng Vaticanô II nói: “Mỗi khi hy tế Thập Giá được cử hành trên bàn thờ, qua đó ‘Đức Kitô là con chiên vượt qua của chúng ta đã chịu hiến tế’, thì công trình cứu chuộc chúng ta lại được thực hiện”. (Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 3).

Mỗi cuộc cử hành Thánh Lễ là một tia nắng mặt trời không có hoàng hôn, là Chúa Giêsu Phục Sinh. Tham dự Thánh Lễ, đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, có nghĩa là bước vào cuộc chiến thắng của Đấng Phục Sinh, được chiếu sáng bởi ánh sáng của Người, được sưởi ấm bởi sự ấm áp của Người. Qua việc cử hành Thánh Lễ, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, là sự sống có khả năng biến đổi tất cả con người hay chết của chúng ta. Và trong cuộc Vượt Qua của Người từ sự chết sang sự sống, từ thời gian đến vĩnh hằng, Chúa Giêsu cũng kéo chúng theo với Người để làm Lễ Vượt Qua. Thánh lễ được thiết lập cho Lễ Vượt Qua. Trong Thánh Lễ, chúng ta cùng chết và sống lại với Chúa Giêsu, và Người đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Trong Thánh Lễ, chúng ta kết hợp với Người. Đúng hơn là, Đức Kitô sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Người. Thánh Phaolô nói, “Tôi đã chịu đóng đinh cùng với Đức Kitô” và Thánh Nhân nghĩ rằng, “không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Và cuộc sống này, mà tôi sống trong thân xác, là sống trong đức tin vào Con Thiên Chúa, là Ðấng đã yêu thương tôi và đã hiến mạng sống Mình vì tôi” (Gal 2: 19-20).

Thực ra, Máu Người giải thoát chúng ta khỏi sự chết và việc sợ chết. Người giải thoát chúng ta không những chỉ khỏi sự thống trị của cái chết thể lý, mà còn cả cái chết thiêng liêng là sự dữ và tội lỗi, là những gì bắt giữ chúng ta mỗi khi chúng ta trở thành nạn nhân của tội lỗi của mình hay của người khác. Và rồi cuộc sống của chúng ta bị ô nhiễm, mất thẩm mỹ, mất ý nghĩa và đau khổ.

Thay vào đó, Đức Kitô ban lại sự sống cho chúng ta; Đức Kitô là sự sung mãn của đời sống, và khi phải đối diện với cái chết, Người đã vĩnh viễn tiêu diệt nó: “Từ cõi chết sống lại, Người huỷ diệt sự chết và canh tân sự sống” (Kinh nguyện Thánh Thể IV). Lễ Vượt Qua của Đức Kitô là chiến thắng cuối cùng trên sự chết vì Người đã biến đổi cái chết của Người thành hành động tình yêu tối cao. Người đã chết vì yêu! Và trong Bí Tích Thánh Thể, Người muốn truyền đạt tình yêu tha thiết và chiến thắng này. Nếu chúng ta đón nhận tình yêu ấy trong đức tin, chúng ta cũng có thể thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, chúng ta có thể yêu như cách Người đã yêu chúng ta, bằng cách ban sự sống.

Nếu tình yêu của Đức Kitô ở trong tôi, tôi có thể trao hiến trọn vẹn chính mình tôi cho tha nhân, với niềm xác tín rằng cả khi người khác có thể làm tổn thương tôi, tôi sẽ không chết; nếu không thì tôi sẽ phải bảo vệ mình. Các vị tử vì đạo đã hiến mạng sống của các ngài chính vì xác tín về chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết. Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được quyền năng này của Đức Kitô, quyền năng của tình yêu của Người, chúng ta mới thực sự tự do hiến mình mà không sợ hãi. Đây là Thánh Lễ: là bước vào cuộc Khổ Nạn, cái Chết, sự Phục Sinh và Lên Trời của Chúa Giêsu; khi chúng ta đi tham dự Thánh Lễ là y như chúng ta đang đi lên Núi Sọ, y như thế. Nhưng anh chị em hãy nghĩ xem: nếu lúc đi Lễ chúng ta đi lên Núi Sọ – chúng ta nghĩ bằng trí tưởng tượng – và chúng ta biết rằng người đang ở đó là chính Chúa Giêsu, thì chúng ta có được phép trò chuyện, chụp hình, trình diễn một chút không? Không! Vì đó là Chúa Giêsu! Chúng ta chắc chắn sẽ im lặng, than khóc, và thậm chí vui mừng vì được cứu độ. Khi chúng ta bước vào nhà thờ để cử hành Thánh Lễ, chúng ta hãy nghĩ về điều này: tôi đến Núi Sọ, nơi mà Chúa Giêsu hiến mạng sống cho tôi. Và như vậy việc trình diễn, đồn đại, bình phẩm ​​và những điều khiến chúng ta xa cách điều tuyệt mỹ này, là Thánh Lễ, chiến thắng của Chúa Giêsu, đều sẽ biến mất.

Tôi nghĩ rằng giờ đây chúng ta thấy rõ hơn là làm sao lễ Vượt Qua lại hiện diện và hoạt động mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, nghĩa là, ý nghĩa của lễ tưởng niệm. Việc tham dự Thánh Lễ làm cho cho chúng ta bước vào Mầu Nhiệm của Đức Kitô, bằng cách cho chúng ta đi với Người từ cái chết sang sự sống, nghĩa là, ở đó trên Núi Sọ. Thánh Lễ là việc tái lập lại Núi Sọ, chứ không phải một buổi trình diễn.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 4

Tại sao phải Tham Dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật

“Cuộc gặp gỡ Chúa vào ngày Chúa Nhật ban cho chúng ta sức mạnh để sống ngày hôm nay với niềm tin cậy và can đảm, và tiến bước với niềm hy vọng.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ tư của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 13 tháng 12, 2017 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican. Hôm nay ĐTC giải thích tại sao chúng ta phải tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật: “Chúng ta cần phải tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật bởi vì chỉ với ân sủng của Chúa Giêsu, với sự hiện diện sống động của Người trong chúng ta và giữa chúng ta, mà chúng ta mới có thể thực thi giáo huấn của Người, và như vậy là các nhân chứng đáng tin cậy của Người”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục cuộc hành trình giáo lý về Thánh Lễ, hôm nay chúng ta tự hỏi: tại sao chúng ta đi tham dự Thánh Lễ vào các ngày Chúa Nhật?

Việc cử hành Thánh Lễ ngày Chúa Nhật là trung tâm của đời sống Hội Thánh (x Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, s. 2177). Là Kitô hữu, chúng ta đi tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật để gặp Chúa Phục Sinh, hay đúng hơn là để cho chúng ta được Người gặp gỡ, lắng nghe Lời Người, nuôi dưỡng chúng ta tại bàn tiệc của Người, và do đó trở thành Hội Thánh, nghĩa là nhiệm thể sống động của Người trong thế gian.

Ngay từ ban đầu người ta đã hiểu rằng các môn đệ của Chúa Giêsu, những người đã cử hành việc gặp gỡ Thánh Thể với Chúa vào ngày của tuần mà người Do thái đã gọi là “ngày thứ nhất trong tuần”, và người Rôma gọi là “ngày của mặt trời”, bởi vì trong ngày ấy, Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết và đã hiện ra với các môn đệ, trò truyện với các ông, ăn uống với các ông và ban Thánh Thần cho các ông (x. Mt 28:1; Mc 16:9,14; Lc 24:1,13; Ga 20:1,19), như chúng ta đã nghe trong bài Thánh Kinh. Ngay cả việc đổ đầy Thánh Thần vào Lễ Ngũ Tuần cũng xảy ra vào ngày Chúa Nhật, ngày thứ năm mươi sau ngày Phục Sinh của Chúa Giêsu. Vì những lý do này, mà ngày Chúa Nhật là một ngày thánh cho chúng ta, được thánh hóa bởi việc cử hành Thánh Thể, là sự hiện diện sống động của Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta. Cho nên, Thánh Lễ biến ngày Chúa Nhật thành của Kitô giáo! Ngày Chúa Nhật của Kitô giáo xoay quanh Thánh Lễ. Ngày Chúa Nhật là gì với một Kitô hữu không có cuộc gặp gỡ với Chúa trong đó?

Tiếc thay, có những cộng đoàn Kitô hữu không thể vui hưởng Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật; tuy nhiên, trong ngày thánh này, các cộng đoàn ấy cũng được mời gọi tụ tập lại trong cầu nguyện nhân danh Chúa, lắng nghe Lời Chúa và giữ cho niềm ước ao Thánh Thể được sống động.

Một số xã hội thế tục đã đánh mất ý nghĩa Kitô giáo của ngày Chúa Nhật được chiếu soi bởi Thánh Thể. Điều này thật đáng tiếc! Trong bối cảnh ấy cần phải hồi sinh ý thức này, để phục hồi ý nghĩa của ngày lễ, ý nghĩa của niềm vui, của cộng đồng giáo xứ, cùa tình đoàn kết, của sự nghỉ ngơi có sức làm tươi mát tâm hồn và thân xác (x. Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, s. 2177-2188). Thánh Thể là thầy dạy tất cả các giá trị này, từ Chúa Nhật này đến Chúa nhật khác. Vì lý do này Công Đồng Vaticanô II muốn nhấn mạnh rằng “Chúa Nhật là ngày lễ nguyên thủy phải được đề ra và khắc sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu, ngõ hầu nó cũng trở thành một ngày của vui mừng và kiêng việc” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, s. 106).

Trong những thế kỷ đầu, không có việc kiêng việc vào ngày Chúa Nhật: nó là một đóng góp cụ thể của Kitô giáo. Theo truyền thống Thánh Kinh, người Do Thái nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, trong khi trong xã hội Rôma người ta đã không dự kiến có một ngày nghỉ việc nặng nhọc hằng tuần. Chính cảm thức sống như con cái chứ không như nô lệ của Kitô hữu, được sinh động hóa bởi Bí Tích Thánh Thể, đã biến ngày Chúa Nhật thành một ngày nghỉ hầu như phổ quát.

Không có Đức Kitô, chúng ta bị kết án dưới ách thống trị của sự mệt mỏi của cuộc sống hàng ngày, với những lo âu của nó, và nỗi sợ hãi về ngày mai. Cuộc gặp gỡ Chúa vào ngày Chúa Nhật ban cho chúng ta sức mạnh để sống ngày hôm nay với niềm tin cậy và can đảm, và tiến bước với niềm hy vọng. Đó là lý do tại sao chúng ta, các Kitô hữu, đến gặp Chúa vào ngày Chúa Nhật, trong việc cử hành Thánh Lễ.

Sự hiệp thông Thánh Thể với Chúa Giêsu, Phục Sinh và Hằng Sống, báo trước ngày Chúa Nhật không có hoàng hôn, khi sẽ không còn có vất vả, đau khổ, buồn rầu, hay nước mắt nữa, mà chỉ có niềm vui được sống sung mãn và muôn đời với Chúa. Thánh Lễ Chúa Nhật cũng nói với chúng ta về sự nghỉ ngơi hồng phúc này, bằng cách dậy chúng ta biết tín thác vào bàn tay Cha trên trời, trong tuần tới.

Chúng ta có thể trả lời thế nào với những người nói rằng không cần tham dự Thánh Lễ, kể cả ngày Chúa Nhật, bởi vì điều quan trọng là ăn ngay ở lành và thương yêu tha nhân?  Đúng là phẩm chất của đời sống Kitô hữu được đo bằng khả năng yêu thương, như Chúa Giêsu đã nói: “Từ điều này mà mọi người sẽ biết các con là môn đệ Thầy: là nếu các con có lòng yêu thương nhau!” (Ga 13:35); nhưng làm sao chúng ta có thể thực thi Tin Mừng mà không múc năng lượng cần thiết để thực hiện điều này, hết Chúa Nhật quá Chúa Nhật khác, từ nguồn không bao giờ cạn của Thánh Thể? Chúng ta không tham dự Thánh Lễ để dâng lên Thiên Chúa một điều gì đó, nhưng để nhận được từ Ngài những gì chúng ta thực sự cần. Điều này được nhắc lại qua kinh nguyện của Hội Thánh, lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa: “Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban, vì những lời chúng con ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ.” (Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng Chung IV).

Kết luận, tại sao đi tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật? Nếu trả lời rằng đó là một luật của Hội Thánh thì chưa đủ; lý do là luật này giúp bảo tồn giá trị của ngày Chúa Nhật, nhưng một mình nó thì chưa đủ. Các Kitô hữu chúng ta cần phải tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật bởi vì chỉ với ân sủng của Chúa Giêsu, với sự hiện diện sống động của Người  trong chúng ta và giữa chúng ta, mà chúng ta mới có thể thực thi giáo huấn của Người, và như vậy là các nhân chứng đáng tin cậy của Người.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý Thứ 5: Nghi Thức Đầu Lễ

“Những cử chỉ này, … là những cử chỉ rất quan trọng bởi vì chúng diễn tả ngay từ ban đầu rằng Thánh Lễ là một cuộc gặp gỡ yêu thương với Đức Kitô.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ năm của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 20 tháng 12, 2017 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.  Hôm nay ĐTC giải thích về Nghi Thức Đầu Lễ: “Mục đích của chúng … là để đảm bảo ‘rằng các tín hữu đến với nhau, hợp thành một cộng đồng, và chuẩn bị chính mình để lắng nghe Lời Chúa với đức tin và cử hành Thánh Lễ một cách xứng đáng’”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay, tôi muốn bước vào trung tâm của việc cử hành Thánh Lễ.  Thánh Lễ gồm có hai phần, là Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể, được nối kết chặt chẽ với nhau để tạo thành một việc thờ phượng duy nhất (x Sacrosanctum Concilium, 56; Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 28).  Được mở đầu bằng một số nghi thức chuẩn bị và kết thúc bằng những nghi thức khác, do đó việc cử hành là một khối duy nhất và không thể tách rời được, nhưng để giúp anh chị em hiểu biết hơn tôi sẽ cố gắng giải thích một số giây phút của nó, mỗi giây phút này có khả năng chạm đến và liên quan đến một khía cạnh nhân loại của chúng ta.  Cần phải biết những dấu chỉ thánh này để sống Thánh Lễ cách trọn vẹn và để thưởng thức tất cả vẻ đẹp của nó.

Khi dân chúng đã tụ tập, cuộc cử hành bắt đầu với nghi thức đầu lễ, bao gồm việc tiến vào của các vị cử hành hoặc vị chủ tế, lời chào – “Chúa ở cùng anh chị em”, “Bình an [của Chúa] ở cùng anh em” -, nghi thức sám hối – “tôi thú nhận,” ở đó chúng ta xin Chúa tha thứ các tội lỗi của mình – kinh Kyrie, Gloria, và Lời Nguyện Nhập Lễ: lời nguyện này được gọi là “Lời nguyện thu thập” không phải vì có việc thu góp các của lễ; nó là sự thu góp các ý chỉ cầu nguyện của mọi người; và sự thu góp các ý chỉ của mọi người được nâng lên trời như lời cầu nguyện.  Mục đích của chúng – các nghi thức đầu lễ – là để đảm bảo “rằng các tín hữu đến với nhau, hợp thành một cộng đồng, và chuẩn bị chính mình để lắng nghe Lời Chúa với đức tin và cử hành Thánh Lễ một cách xứng đáng” (Hướng Dẫn Chung của Sách Lễ Rôma, 46).  Thật không phải là một thói quen tốt khi nhìn đồng hồ và nói: “Tôi đến đúng giờ, tôi đến sau bài giảng và như thế tôi làm tròn lề luật”.  Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá, với các nghi thức đầu lễ này, bởi vì chúng ta bắt đầu thờ phượng Thiên Chúa như một cộng đồng.  Và chính vì điều ấy mà việc quan trọng là lo liệu sao để đừng đến trễ, nhưng đến sớm, để chuẩn bị tâm hồn cho nghi thức này, cho việc cử hành của cộng đồng.

Thường thì trong khi hát bài ca nhập lễ, vị linh mục với các thừa tác viên khác trong cuộc rước tiến đến cung thánh, và ở đây ngài chào bàn thờ với một cúi đầu và một dấu chỉ tôn kính, ngài hôn bàn thờ, và khi có xông hương thì ngài xông hương.  Tại sao?  Bởi vì bàn thờ là Đức Kitô: Bàn thờ là một hình ảnh của Đức Kitô.  Khi chúng ta nhìn lên bàn thờ, chúng ta nhìn lên nơi Đức Kitô ngự.  Bàn thờ là Đức Kitô.  Những cử chỉ này, là những cử chỉ có nguy cơ không mấy được chú ý, là những cử chỉ rất quan trọng bởi vì chúng diễn tả ngay từ ban đầu rằng Thánh Lễ là một cuộc gặp gỡ yêu thương với Đức Kitô, Đấng “hiến thân mình trên thập giá […] đã trở thành bàn thờ, lễ vật và tư tế” (Kinh Tiền Tụng Phục Sinh V).  Thực ra, bàn thờ như một dấu chỉ của Đức Kitô, “là trung tâm của cử chỉ tạ ơn được thực hiện với Thánh Thể” (Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 296), và cả cộng đồng chung quanh bàn thờ, là Đức Kitô; không phải để nhìn mặt, mà để nhìn vào Đức Kitô, bởi vì Đức Kitô là trung tâm của cộng đồng, Người không cách xa nó.

Rồi có dấu Thánh Giá.  Vị linh mục chủ tế làm dấu Thánh Giá trên mình và tất cả các thành viên của cuộc tụ họp cũng làm như thế, ý thức rằng hành động phụng vụ được thực hiện ‘nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Và ở đây tôi chuyển sang một chủ đề rất nhỏ khác.  Anh chị em có thấy các trẻ em làm dấu Thánh Giá như thế nào không?  Chúng không biết mình đang làm gì: đôi khi chúng vẽ một hình, mà không phải là dấu Thánh Giá.  Các cha mẹ, ông bà, làm ơn dạy dỗ con cái, ngay từ ban đầu – từ khi còn nhỏ – biết làm dấu Thánh Giá cho đúng.  Và giải thích cho chúng biết rằng [làm dấu Thánh Giá] là để được Thánh Giá Chúa Giêsu bảo vệ.  Và Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá.  Có thể nói được rằng tất cả các lời cầu nguyện di chuyển trong không gian của Thiên Chúa Ba Ngôi – “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” – đó là không gian của sự hiệp thông vô hạn; nó bắt nguồn và kết thúc ở tình yêu của Một Thiên Chúa Ba Ngôi, được biểu lộ và ban cho chúng ta trong Thánh Giá của Đức Kitô.  Thật vậy, mầu nhiệm Vượt Qua của Người là một hồng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi, và Thánh Thể luôn phát sinh từ trái tim bị đâm thủng của Người.  Cho nên, khi làm dấu Thánh Giá trên mình, chúng ta không những chỉ nhớ đến Bí Tích Rửa Tội của mình, mà còn khẳng định rằng cầu nguyện phụng vụ là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nhập thể, đã chết trên Thập Giá và đã sống lại trong vinh quang vì chúng ta.

Sau đó, linh mục nói lời chào phụng vụ, với câu: “Chúa ở cùng anh chị em” hoặc một câu tương tự khác – có nhiều câu khác -; và cộng đồng thưa: “Và ở cùng [thần khi] Cha”.  Chúng ta đang đối thoại; chúng ta đang ở đầu Thánh Lễ và chúng ta phải nghĩ về ý nghĩa của tất cả những cử chỉ và lời nói này.  Chúng ta đang bước vào một “buổi hòa tấu”, trong đó vang lên các giọng khác nhau, bao gồm cả thời gian im lặng, tạo ra ”sự đồng thuận” giữa những người tham dự, nghĩa là nhận ra mình được sinh động hóa bởi một Thần Khí duy nhất, và có cùng một mục đích.  Thực ra “lời chào của linh mục và lời đáp của dân chúng cho thấy mầu nhiệm của Hội Thánh được quy tụ lại” (Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 50).  Như vậy, đức tin chung và ước vọng chung được ở với Chúa và sống hiệp nhất với toàn thể cộng đồng được diễn tả.

Và đây là một hòa tấu cầu nguyện, được tạo ra và lập tức trình bày một giây phút rất cảm động, bởi vì vị chủ tế mời mọi người nhìn nhận tội lỗi mình.  Tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi.  Tôi không biết, có thể một số người trong anh chị em không phải là người tội lỗi …  Nếu ai không phải là người tội lỗi, xin làm ơn giơ tay lên, để tất cả chúng tôi đều thấy.  Nhưng không có tay nào giơ lên cả, tốt quá: anh chị em có đức tin tốt!  Tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi; và vì điều này mà ở đầu Thánh Lễ chúng ta cầu xin ơn tha thứ.  Đó là cử chỉ sám hối.  Đó không phải chỉ là nghĩ về những tội mình đã phạm, nhưng còn hơn nữa: đó là một lời mời gọi thú tội của mình trước mặt Thiên Chúa và trước mặt cộng đồng, trước mặt anh chị em, với lòng khiêm nhường và chân thành, như người thu thuế ở trong Đền Thờ.  Nếu Bí Tích Thánh Thể thực sự làm cho mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa cuộc vượt qua của Đức Kitô từ cõi chết sang sự sống, được hiện diện, thì việc trước hết chúng ta phải làm là nhận ra những gì là tình trạng chết của mình để có thể sống lại với Người trong đời sống mới.  Điều ấy làm cho chúng ta hiểu được hành vi sám hối quan trọng như thế nào.  Và vì điều ấy, chúng ta sẽ tiếp tục đề tài này trong bài giáo lý sau.

Chúng ta hãy đi từng bước một để giải thích Thánh Lễ.  Nhưng tôi khuyên anh chị em: làm ơn dạy cho con cái mình  biết làm dấu Thánh Giá đúng cách!

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 6:

Bài Giáo Lý Thứ 6: CỬ CHỈ SÁM HỐI

“Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng chỉ có những ai có thể nhìn nhận các lỗi lầm và xin lỗi thì mới nhận được sự thông cảm và sự tha thứ của người khác”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ sáu của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 3 tháng 1, 2018 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.  Hôm nay ĐTC giải thích về ý nghĩa của Cử Chỉ Sám Hối: Cử chỉ sám hối “củng cố thái độ mà với nó chúng ta dọn mình để xứng đáng cử hành các mầu nhiệm thánh, nghĩa là nhìn nhận các tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và anh chị em mình….  Tội lỗi cắt đứt: cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa và cắt đứt mối liên hệ với anh chị em, mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội và trong cộng đồng: Tội lỗi luôn cắt đứt, phân cách và chia rẽ”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục bài giáo lý về việc cử hành Thánh Lễ, hôm nay chúng ta xét đến cử chỉ sám hối trong bối cảnh của nghi thức đầu lễ. Trong sự đơn sơ của nó, nó củng cố thái độ mà với nó chúng ta dọn mình để xứng đáng cử hành các mầu nhiệm thánh, nghĩa là nhìn nhận các tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và anh chị em mình, nhìn nhận rằng mình là những kẻ tội lỗi. Thật ra, lời mời gọi của linh mục được nói với toàn thể cộng đồng trong cầu nguyện, vì tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi. Chúa có thể ban gì cho những kẻ có một con tim chứa đầy chính mình, đầy thành công của mình? Không ban gì cả, bởi vì kẻ hợm mình, đầy sự tự nhận mình là công chính, thì không thể đón nhận được ơn tha thứ. Chúng ta hãy nghĩ đến dụ ngôn người Pharisêu và người thâu thuế, chỉ có người thứ hai – người thu thuế – mới trở về nhà được nên công chính, nghĩa là được tha thứ (x. Lc 18: 9-14). Ai ý thức được những khốn khổ của mình và cúi mắt nhìn xuống với lòng khiêm nhường, thì cảm nhận được cái nhìn chăm chú đầy thương xót của Thiên Chúa soi trên mình. Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng chỉ có những ai có thể nhìn nhận các lỗi lầm và xin lỗi thì mới nhận được sự thông cảm và sự tha thứ của người khác.

Lắng nghe tiếng lương tâm trong im lặng cho phép chúng ta nhận ra rằng các suy nghĩ của mình thật khác xa các suy nghĩ của Thiên Chúa, các lời nói và hành động của mình thường là phàm tục, nghĩa là bị hướng dẫn bởi các chọn lựa ngược với Tin Mừng. Do đó, ở đầu Thánh Lễ, chúng ta cùng nhau thực hiện cử chỉ sám hối qua một công thức thú tội chung, được nói lên ở ngôi thứ nhất số ít. Mọi người đều thú tội với Thiên Chúa và với các anh chị em rằng mình “đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”. Vâng, ngay cả trong sự thiếu sót, nghĩa là đã không làm những điều tốt mà tôi có thể làm. Chúng ta thường cảm thấy tốt bởi vì – chúng ta nói – “Tôi đã không làm tổn thương ai cả”. Trong thực tế, chỉ không làm tổn thương người khác thì chưa đủ, cần phải chọn để làm điều tốt bằng cách nắm lấy những cơ hội để làm chứng tốt rằng chúng ta là các môn đệ của Chúa Giêsu.  Thật tốt khi nhấn mạnh rằng chúng ta thú nhận với cả Thiên Chúa lẫn anh chị em rằng mình là những kẻ tội lỗi: điều này giúp chúng ta hiểu được chiều kích của tội lỗi là điều, trong khi tách rời chúng ta khỏi Thiên Chúa, cũng chia cách chúng ta với anh chị em mình và ngược lại. Tội lỗi cắt đứt: cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa và cắt đứt mối liên hệ với anh chị em, mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội và trong cộng đồng: Tội lỗi luôn cắt đứt, phân cách và chia rẽ.

Các lời chúng ta nói qua miệng của mình đi kèm với cử chỉ đấm ngực của mình, nhìn nhận rằng tôi đã phạm tội do lỗi của chính tôi, chứ không phải của người khác. Thường xảy ra là chúng ta chỉ ngón tay để tố cáo người khác vì sợ hoặc xấu hổ. Nhìn nhận có tội như thế này, nhưng thật tốt khi thú nhận nó với lòng chân thành. Chúng ta hãy thú nhận tội lỗi của mình. Tôi nhớ một giai thoại mà một vị thừa sai già đã kể về một phụ nữ đi xưng tội và bắt đầu kể các sai lầm của chồng; rồi bà ấy tiếp tục kể các sai lầm của mẹ chồng và sau đó là tội lỗi của các người láng giềng. Đến một lúc, cha giải tội nói với bà: “Nhưng, thưa bà, cho tôi biết: bà đã xong chưa? – Rất tốt: bà đã xong với tội của người khác. Bây giờ hãy bắt đầu xưng tội của bà đi”. Xưng các tội lỗi của mình!

Sau khi thú nhận tội lỗi, chúng ta khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần và các Thánh cầu cùng Chúa cho chúng ta. Việc các thánh cùng thông công này cũng thật là quý giá: nghĩa là, sự cầu bầu của các “bạn hữu và các mẫu gương của cuộc sống” (Kinh Tiền Tụng ngày 1 tháng 11) nâng đỡ chúng ta trên con đường hướng về sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, khi tội lỗi sẽ bị hủy diệt vĩnh viễn.

Ngoài “Kinh Cáo Mình”, chúng ta có thể làm nghi thức sám hối với các công thức khác, chẳng hạn như: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng com / Vì chúng con đã xúc phạm đến Chúa / Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con / Và ban ơn cứu độ cho chúng con.” (x. Tv 123:3, 85:8, Gr 14:20). Đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, chúng ta có thể thực hiện việc làm phép nước và rảy nước thánh để nhớ lại Bí Tích Rửa Tội (x. Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Roma, 51), đã xoá bỏ mọi tội lỗi. Như một phần của cử chỉ sám hối, chúng ta cũng có thể, hát kinh Kyrie eleison (Kinh Thương Xót): với một biểu thức Hy Lạp cổ xưa, chúng ta tung hô Chúa – Kyrios – và nài xin lòng thương xót của Ngài (nt., 52).

Thánh Kinh cho chúng ta các mẫu gương sáng ngời của những nhân vật điển hình về “thống hối”, trở lại với chính mình sau khi đã phạm tội, tìm được can đảm để tháo bỏ mặt nạ và mở lòng mình ra cho ân sủng là điều canh tân tâm hồn. Chúng ta hãy nghĩ đến Vua Đavid và các lời được ghi lại trong Thánh Vịnh: “Ôi lạy Thiên Chúa, xin thương con, trong tình yêu của Chúa; trong lòng thương xót vô bờ của Chúa, xin xóa sạch các lỗi lầm của con” (Tv 5:.3).  Chúng ta hãy nghĩ đến người con hoang đàng trở về cùng cha mình; hoặc lời kêu xin của người thu thuế: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Chúng ta cũng nghĩ đến Thánh Phêrô, ông Giakêu, và người Samaritanô.  So mình với sự dễ bể của đất sét mà với nó chúng ta đã được nhào nắn là một kinh nghiệm củng cố chúng ta: trong khi làm cho chúng ta đối phó với sự yếu đuối yếu của mình, nó mở lòng chúng ta ra để cầu xin lòng thương xót của Thiên Chúa, là điều biến đổi và hoán cải. Và đó là những gì chúng ta làm trong cử chỉ sám hối ở đầu Thánh Lễ.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 7:

KINH VINH DANH VÀ LỜI NGUYỆN NHẬP LỄ (The Collect).

“Nguyện xin phụng vụ trở thành một trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ bảy của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 10 tháng 1, 2018 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.          Hôm nay, ĐTC giải thích về Kinh Vinh Danh, và đặc biệt là về ý nghĩa của Lời Nguyện Nhập Lễ (The Collect) và giây phút im lặng trước Lời Nguyện này: “Với lời mời ‘Chúng ta hãy cầu nguyện’, vị linh mục khuyên nhủ dân chúng cùng hồi tâm với ngài trong một lúc im lặng để ý thức rằng mình đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa và mỗi người nói lên trong lòng mình những ý chỉ riêng mà với chúng họ tham dự Thánh Lễ…. Nếu không có phút im lặng này, chúng ta có nguy cơ bỏ qua việc hồi tâm của linh hồn”. Ngài kết luận rằng các Lời Nguyện này chứa đầy ý nghĩa, và chúng ta có thể suy niệm chúng ngoài Thánh Lễ để “học cách hướng về Thiên Chúa ra sao, cầu xin gì, sử dụng những lời nào” vá gọi phụng vụ là “trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong các bài Giáo Lý về việc cử hành Thánh Lễ, chúng ta đã thấy rằng cử chỉ sám hối giúp chúng ta lột bỏ những tự phụ của mình và trình bày trước mặt Thiên Chúa thực trạng của mình, ý thức rằng mình là những người tội lỗi và hy vọng được ơn tha thứ.

Chính từ cuộc gặp gỡ giữa cảnh khốn cùng của con người và lòng thương xót của Thiên Chúa đưa đến lòng biết ơn được bày tỏ trong kinh “Vinh Danh”, “một bài thánh thi rất cổ kính và đáng kính, trong đó Hội Thánh, tập trung trong Chúa Thánh Thần, ca ngợi và nài xin Đức Chúa Cha và Con Chiên” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 53).

Lời mở đầu của bài thánh thi này – “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” – tiếp tục bài hát của các Thiên Thần khi Chúa Giêsu ra đời ở Bethlehem, lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa trời và đất. Bài hát này cũng liên quan đến việc chúng ta tụ tập trong cầu nguyện: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Sau kinh “Vinh Danh”, hoặc, khi không có kinh ấy, thì ngay sau cử chỉ sám hối, kinh nguyện có một hình thức cầu nguyện đặc biệt gọi là “colletta” (Lời Nguyện Nhập Lễ), mà qua đó đặc tính chính xác của cuộc cử hành được diễn tả, được thay đổi theo ngày và giờ trong năm (x. ibid, 54). Với lời mời “Chúng ta hãy cầu nguyện”, vị linh mục khuyên nhủ dân chúng cùng hồi tâm với ngài trong một lúc im lặng để ý thức rằng mình đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa và mỗi người nói lên trong lòng mình những ý chỉ riêng mà với chúng họ tham dự Thánh Lễ (xem ibid., 54). Linh mục nói “chúng ta hãy cầu nguyện”; và sau đó đến một lúc im lặng, và mỗi người nghĩ về những điều mình cần và mình muốn cầu xin trong lời nguyện này.

Sự im lặng không chỉ rút lại thành việc không có tiếng nói, nhưng là chuẩn bị sẵn sàng để lắng nghe những tiếng nói khác: của tâm hồn chúng ta, và trên hết là tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Trong phụng vụ, bản chất của sự im lặng thánh thiêng tùy thuộc vào thời điểm mà nó xảy ra: “Trong cử chỉ sám hối và sau lời mời cầu nguyện, nó giúp cho việc hồi tâm; sau bài đọc hoặc bài giảng, nó là một lời mởi gọi để suy niệm một cách ngắn gọn về những gì đã nghe; sau khi Rước Lễ, nó giúp cho việc cầu nguyện ngợi khen và khẩn cầu nội tâm” (ibid., 45). Vì vậy, trước Lời Nguyện Nhập Lễ, sự im lặng giúp chúng ta chú tâm vào chính mình và suy nghĩ về lý do tại sao chúng ta ở đó. Cho nên, việc lắng nghe tâm hồn chúng ta ở đây và sau đó mở nó cho Chúa là điều quan trọng. Có lẽ chúng ta đến từ những ngày khó nhọc, vui mừng, đau buồn, và chúng ta muốn thưa chuyện với Chúa, cầu khẩn sự giúp đỡ của Ngài, để xin Ngài ở gần chúng ta; chúng ta có các phần tử trong gia đình và bạn bè đang bị ốm đau hoặc đang trải qua những thử thách khó khăn; chúng ta muốn trao phó cho Thiên Chúa số phận của Hội Thánh và thế giới. Và đó là lý do tại sao chúng ta cần phút im lặng ngắn này trước khi vị linh mục, thu thập những ý chỉ của mỗi người, lớn tiếng thay mặt tất cả mọi người trình bày nó lên Thiên Chúa, lời cầu nguyện chung kết thúc các nghi thức đầu lễ, bằng cách làm chính việc “thu thập” các ý chỉ cá nhân. Tôi chân thành khuyên các linh mục giữ phút im lặng này và đừng vội vã: “chúng ta hãy cầu nguyện”, và hãy im lặng. Tôi đề nghị điều này với các linh mục. Nếu không có phút im lặng này, chúng ta có nguy cơ bỏ qua việc hồi tâm của linh hồn.

Các linh mục đọc lời cầu khẩn này, lời cầu nguyện thu thập (Lời Nguyện Nhập Lễ) này, với cánh tay dang rộng, là tư thế của người cầu nguyện, được các Kitô hữu thực hiện ngay từ các thế kỷ đầu – được minh chứng bởi các bức họa của các hang toại đạo ở Rôma – để bắt chước Đức Kitô với đôi tay rộng mở trên cây gỗ thập giá. Và ở đó, Đức Kitô là Đấng Cầu Nguyện và là cùng nhau cầu nguyện! Trong Đấng Chịu Đóng Đanh, chúng ta nhận ra vị Linh Mục đang dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng mà Ngài vui lòng, đó là sự vâng phục con thảo.

Trong Nghi Thức Rôma, các lời cầu nguyện đều chính xác nhưng đầy ý nghĩa: có thể thực hiện nhiều suy niệm đẹp về các lời cầu nguyện này. Quá đẹp! Trở lại việc suy niệm về các bản văn, ngay cả ngoài Thánh Lễ, có thể giúp chúng ta học cách hướng về Thiên Chúa ra sao, cầu xin gì, sử dụng những lời nào. Nguyện xin phụng vụ trở thành một trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Bài Giáo Lý 7:

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

“Phụng vụ Lời Chúa là một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ tám của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 31 tháng 1, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC giải thích về Phụng Vụ Lời Chúa: “Trong Hội Thánh khi Thánh Kinh được đọc, thì Chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời, công bố Tin Mừng… Chúng ta lắng nghe Lời ấy bằng tai của mình và chuyển Lời ấy sang tâm hồn mình; Lời ấy không ở lại trong tai, mà phải đi vào tâm hồn; và từ tâm hồn Lời ấy chuyền sang đôi tay, để làm việc lành”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay, chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ.  Sau khi bàn về nghi thức đầu lễ, giờ đây chúng ta hãy xét đến Phụng Vụ Lời Chúa, là một phần cấu thành [của Thánh Lễ] bởi vì chúng ta tụ họp để lắng nghe những gì Thiên Chúa đã làm và vẫn còn có ý định làm cho chúng ta. Đó là một kinh nghiệm “trực tiếp” chứ không phải do được nghe nói đến, bởi vì “trong Hội Thánh khi Thánh Kinh được đọc, thì Chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời, công bố Tin Mừng” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Roma (QCTQSLR), 29, xem Hiến Chế Phụng Vụ Thánh (SC), 7; 33). Và biết bao lần, trong khi Lời Chúa được đọc, người ta lại bảo nhau: “Hãy nhìn ông này …, hãy nhìn bà kia …, hãy nhìn cái mũ bà ta đang đội: thật nực cười …”. Và họ bắt đầu nói chuyện. Có đúng không? Có nên nói chuyện trong khi đọc Lời Chúa không? [dân chúng trả lời: “Không!“]. Không, bởi vì nếu chúng ta nói chuyện với những người khác thì chúng ta không lắng nghe Lời Chúa. Khi chúng ta đọc Lời Chúa trong Thánh Kinh – Bài Đọc Thứ Nhất, Thứ Hai, Thánh Vịnh đáp ca và Tin Mừng – chúng ta phải lắng nghe, mở lòng ra, bởi vì chính Thiên Chúa là Đấng nói với chúng ta, và đừng nghĩ về những điều khác hay nói về những điều khác. Hiểu chưa? … Tôi sẽ giải thích cho anh chị em về việc gì xảy ra trong Phụng Vụ Lời Chúa.

Các trang Thánh Kinh không còn là một bài viết mà trở thành Lời sống động được Thiên Chúa công bố. Chính Thiên Chúa là Đấng, qua người đọc, nói với chúng ta và thách đố chúng ta, là những người nghe với đức tin. Chúa Thánh Thần, Đấng “đã dùng các tiên tri mà phán dạy” (Kinh Tin Kính) và đã linh hứng các thánh ký, làm cho “Lời Chúa thực sự tác động trong tâm hồn điều mà Ngài làm cho vang lên trong tai” (Sách Bài Đọc, Dẫn Nhập, 9). Nhưng để lắng nghe Lời Chúa thì cần phải mở lòng ra mà đón nhận các Lời ấy vào lòng. Thiên Chúa nói và chúng ta lắng nghe Ngài, rồi sau đó thực hành những gì chúng ta đã nghe. Điều rất quan trọng là lắng nghe. Đôi khi chúng ta có thể không hiểu tại sao lại có một số bài đọc hơi khó hiểu. Nhưng Thiên Chúa nói cùng Lời ấy với chúng ta bằng một cách khác, trong thầm lặng và lắng nghe Lời Chúa. Đừng quên điều này. Trong Thánh Lễ, khi các Bài Đọc bắt đầu, chúng ta lắng nghe Lời Chúa.

Chúng ta cần lắng nghe Ngài! Thực ra, đó là một vấn đề sự sống, như một diễn tả sâu sắc rằng, “người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, mà còn bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4). Sự sống mà Lời Thiên Chúa ban cho chúng ta. Theo nghĩa này, chúng ta nói về Phụng Vụ Lời Chúa như “bàn tiệc” mà Chúa dọn ra để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đó là một bán tiệc tràn đầy của phụng vụ, rút ra rộng rãi từ kho tàng Thánh Kinh (x SC, 51), cả Cựu lẫn Tân Ước, bởi vì trong cả hai giao ước, Hội Thánh công bố cùng một một mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô (x Sách Bài Đọc, dẫn nhâp, 5). Chúng ta nghĩ về sự phong phú của các bài đọc Thánh Kinh được ba chu kỳ Chúa Nhật cung cấp mà, theo ánh sáng của các Tin Mừng Nhất Lãm, đồng hành với chúng ta trong suốt Năm Phụng Vụ: một sự phong phú dồi dào. Tôi cũng muốn đề cập đến ở đây tầm quan trọng của Thánh Vịnh đáp ca, có chức năng nuôi dưỡng việc suy niệm về điều đã được nghe trong bài đọc trước đó. Tốt hơn là bài Thánh Vịnh được củng cố bằng bài hát, ít là trong điệp khúc (xem QCTQSLR, 61, Sách Bài Đọc, Dẫn Nhập, 19-22).

Việc công bố phụng vụ cũng những Bài Đọc ấy, với những bài hát được rút ra từ Thánh Kinh, bày tỏ và nuôi dưỡng sự hiệp thông của Hội Thánh, đồng hành với cuộc hành trình của mỗi người chúng ta.  Cho nên, chúng ta có thể hiểu được tại sao một số chọn lựa chủ quan, như bỏ các Bài Đọc hay thay thế chúng bằng các bản văn ngoài Thánh Kinh, đều bị cấm. Tôi nghe nói có người, đọc báo nếu có tin tức, bởi vì đó là tin tức trong ngày. Không! Lời Chúa là Lời của Thiên Chúa! Chúng ta có thể đọc báo sau. Nhưng ở đây chúng ta đọc Lời của Thiên Chúa, Đấng nói với chúng ta. Thay thế Lời ấy bằng những điều khác làm cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài trong cầu nguyện bị nghèo nàn và tổn thương. Đàng khác, việc tôn trọng toà giảng và việc sử dụng Sách Bài Đọc, việc có sẵn những người đọc và những người hát Thánh Vịnh tốt [là điều bắt buộc]. Nhưng chúng ta phải tìm những người đọc tốt, những người có thể đọc, chứ không phải những người đọc [sai các lời] khiến cho người ta chẳng hiểu gì cả. Giống như thế này. Những người đọc tốt. Họ phải chuẩn bị và thử trước Thánh Lễ để đọc cho tốt. Và điều này tạo ra một bầu không khí đón nhận im lặng [1].

Chúng ta biết rằng Lời Chúa là một sự trợ giúp để mình không bị lạc đường, cũng như tác giả Thánh Vịnh hướng lên Chúa mà thú nhận rằng: “Lời Chúa là ngọn đèn soi bước chân con, là ánh sáng soi đường con đi” (Tv 119:105). Làm sao chúng ta có thể đương đầu với cuộc lữ hành trần thế của mình, với những khó nhọc và thử thách của nó, mà không thường xuyên được nuôi dưỡng và soi sáng bởi Lời Chúa, là Lời vang lên trong Phụng Vụ?

Chắc chắn rằng chỉ nghe bằng tai, mà không đón nhận hạt giống Lời Chúa vào tâm hồn mình và để cho hạt giống ấy sinh hoa trái, thì chưa đủ. Chúng ta hãy nhớ lại dụ ngôn người gieo giống và các kết quả khác nhau tuỳ theo các loại đất khác nhau (xem Mc 4: 14-20). Tác động của Chúa Thánh Thần, là điều làm cho sự đáp trả có hiệu quả, cần những tâm hồn để cho mình được Ngài làm việc và vun xới, ngõ hầu những gì được nghe trong Thánh Lễ chuyển sang cuộc sống hằng ngày, theo lời khuyên của Thánh Tông Đồ Giacôbê: “Anh em hãy là những người thực hành Lời Chúa, chứ không phải chỉ là những người nghe suông mà lừa dối chính mình” (Gc 1:22). Lời Chúa hành trình trong chúng ta. Chúng ta lắng nghe Lời ấy bằng tai của mình và chuyển Lời ấy sang tâm hồn mình; Lời ấy không ở lại trong tai, mà phải đi vào tâm hồn; và từ tâm hồn Lời ấy chuyền sang đôi tay, để làm việc lành. Đây là con đường mà Lời Chúa đi theo: từ tai đến tâm hồn và đôi tay. Chúng ta hãy học những điều này. Cảm ơn anh chị em!

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

[1] “Phụng vụ Lời Chúa phải được cử hành cách nào để thúc đẩy việc suy niệm. Vì vậy, cần phải tránh tất cả các hình thức vội vã làm cản trở việc hồi tâm. Cũng có trong đó cơ hội cho những giây phút im lặng ngắn, phù hợp với buổi quy tụ, qua đó, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa được nghe thấy trong lòng và lời đáp trả được chuẩn bị bằng cầu nguyện “(QCTQSLR, 56).

________________________________________

Nguồn: tonggiaophanhue.net

Share this post:

Recent Posts

Comments are closed.